Thay đổi căn bản cách tiếp cận
Tập đoàn bán lẻ lớn nhất Nhật Bản AEON vừa công bố một kế hoạch đáng chú ý: Dành khoảng 60% tổng vốn đầu tư tại ASEAN cho Việt Nam, mở rộng mạng lưới lên khoảng 300 cửa hàng trên cả nước và nâng doanh thu từ hơn 100 tỷ yên năm 2025 lên hơn 300 tỷ yên vào 2030. Kế hoạch này cho thấy, họ thật sự đặt niềm tin vào một thị trường hơn 100 triệu dân, nơi thu nhập bình quân đã vượt ngưỡng trung bình cao theo phân loại của WB và quy mô bán lẻ được dự báo có thể đạt khoảng 350 tỷ USD.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khảo sát PCI-FDI của VCCI cho thấy trong suốt một thập kỷ qua, bán buôn, bán lẻ tiếp tục là lĩnh vực tập trung nhiều doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất. Dòng vốn FDI đang hướng nhiều hơn tới sức mua, hệ thống phân phối và nền kinh tế dịch vụ đang tăng trưởng nhanh của Việt Nam.
Bức tranh trên cho thấy, hiện nay các tập đoàn nước ngoài chủ yếu đến Việt Nam để xây nhà máy và xuất khẩu hàng hóa ra thế giới kể từ sau Đổi mới. Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế là một cứ điểm sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi các doanh nghiệp FDI đã đổ xô vào đầu tư trong lĩnh vực chế biến, chế tạo do lợi thế nhân công giá rẻ, thuế rẻ và nhiều chi phí sản xuất khác cũng rẻ.
Sáu tháng đầu năm 2026, trong tổng số 13,03 tỷ USD vốn FDI thực hiện, có tới 10,76 tỷ USD, tương đương 82,6%, được rót vào công nghiệp chế biến, chế tạo. Từ nhà máy đến siêu thị, dấu ấn của khu vực FDI hiện diện ở hầu hết những mắt xích quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam.
Sau gần 40 năm mở cửa, Việt Nam đã thu hút gần 550 tỷ USD vốn FDI đăng ký với hơn 46 nghìn dự án còn hiệu lực, trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất khu vực. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 75% kim ngạch xuất khẩu. Riêng sáu tháng đầu năm 2026, vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước, còn vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong 5 năm trở lại đây.
Đó là một trong những câu chuyện thành công nổi bật nhất của 40 năm Đổi mới. Song thế giới đã thay đổi “cuộc chơi” và Việt Nam cũng không thể tiếp tục thu hút FDI bằng tư duy của những năm trước đây. Trong bối cảnh mới, Việt Nam cần có cách tiếp cận mới với khu vực kinh tế quan trọng này. Và nhiệm vụ trọng tâm là làm sao phát huy hiệu quả các nguồn lực ấy để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới.
Khoảng cách chưa thể lấp đầy
Khu vực kinh tế FDI đã đóng góp lớn cho tăng trưởng, xuất khẩu, công nghiệp hóa, việc làm và tiếp nhận công nghệ. Tuy nhiên, nhiều hạn chế cũng được chỉ rõ như tỷ lệ nội địa hóa thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước còn yếu, chuyển giao công nghệ và nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa đạt kỳ vọng; nhiều dự án vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng lao động phổ thông, đất đai và năng lượng giá rẻ, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
Những nhận định ấy trùng với đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế. Tại Diễn đàn Đối thoại Chiến lược 2026, các chuyên gia từ Đại học Columbia, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cho rằng mô hình FDI của Việt Nam đang tiến gần tới giới hạn.
Phần lớn doanh nghiệp nước ngoài vẫn tập trung ở công đoạn lắp ráp, gia công có giá trị gia tăng thấp; hoạt động R&D tại Việt Nam còn mỏng; doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước mới cung ứng khoảng một phần tư đầu vào cho khu vực FDI.
Phó Tổng Thư ký OECD Yasushi Masaki chỉ rõ doanh nghiệp FDI chiếm chưa tới 3% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, nhưng tạo ra hơn một phần tư việc làm và gần một phần ba giá trị gia tăng. Đó là thành công lớn của quá trình mở cửa. Nhưng cũng chính sự chênh lệch ấy cho thấy mô hình hiện nay đã đến lúc phải nâng cấp. “Việt Nam không chỉ cần thêm FDI, mà cần FDI có chất lượng cao hơn, gắn chặt hơn với doanh nghiệp trong nước, tạo nhiều tri thức, kỹ năng, công nghệ và giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế Việt Nam”, ông Yasushi Masaki nói.
Nhìn từ những dữ liệu và đánh giá trên, có thể thấy sau gần bốn thập kỷ mở cửa, Việt Nam đã hình thành hai khu vực kinh tế cùng phát triển nhưng chưa thật sự gắn kết. Một bên là khu vực FDI ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mở rộng từ sản xuất sang logistics, phân phối và bán lẻ, đồng thời tạo ra phần lớn kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bên kia là cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, phần lớn vẫn có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ hạn chế và chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Khoảng cách giữa hai khu vực ấy, hơn bất kỳ con số FDI nào, mới là bài toán mà Nghị quyết 10 hướng tới.
Chất lượng được đặt ở vị trí trung tâm
Ở góc nhìn toàn cầu, Giáo sư Merit Janow (Đại học Columbia) cho rằng, thế giới không bước vào thời kỳ “phi toàn cầu hóa” mà đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Các tập đoàn vẫn tiếp tục đầu tư xuyên biên giới, nhưng quyết định đầu tư ngày càng phụ thuộc vào công nghệ, an ninh kinh tế, chất lượng thể chế và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế.
Gọi xu hướng đó là “toàn cầu hóa có chọn lọc”, TS Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch Đầu tư, nay là Bộ Tài chính) phân tích nếu giai đoạn 1987-2025 là thời kỳ Việt Nam thu hút “vốn sản xuất”, thì từ nay đến năm 2045, cuộc cạnh tranh sẽ chuyển sang thu hút các dòng vốn công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và các tập đoàn dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu.
Nói cách khác, thế giới đã thay đổi cuộc chơi và Việt Nam cũng không thể tiếp tục thu hút FDI bằng tư duy của ba thập kỷ trước.
Trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra một câu hỏi: Làm thế nào sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế để nâng cao nội lực, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và có năng lực cạnh tranh cao hơn?
Vì thế, Nghị quyết 10-NQ/TW không còn lấy quy mô vốn hay số lượng dự án làm thước đo chủ yếu. Lần đầu tiên, những mục tiêu về chất lượng được đặt ở vị trí trung tâm: thu hút nhiều hơn dòng vốn từ các nền kinh tế phát triển; hình thành hàng nghìn doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; nâng tỷ lệ nội địa hóa; phát triển các trung tâm R&D, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và thiết kế; từng bước đưa Việt Nam lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Gần bốn thập kỷ trước, Việt Nam mở cửa để đón dòng vốn quốc tế. Những nhà máy đầu tiên đã góp phần đưa đất nước trở thành một trung tâm sản xuất và xuất khẩu của khu vực. Đến nay, những đại công xưởng đã trải dài từ Thái Nguyên đến Hải Phòng, từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Đồng Nai... khi các tập đoàn bán lẻ quốc tế coi Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn nhất châu Á.
Lúc này, bài toán đặt ra là làm thế nào để sau mỗi dự án đầu tư mới sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành, nhiều công nghệ được làm chủ và nhiều giá trị được tạo ra ngay chính ở nền kinh tế Việt Nam. Đó không chỉ là bước chuyển của chính sách thu hút FDI, mà còn là bước chuyển trong tư duy phát triển của Việt Nam.
Trong giai đoạn mới, thước đo sẽ là bao nhiêu công nghệ được chuyển giao, bao nhiêu doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, bao nhiêu kỹ sư làm chủ công nghệ mới và bao nhiêu giá trị được giữ lại trong nền kinh tế.