Nỗ lực của Việt Nam
Về mặt pháp lý, Việt Nam đã xây dựng được một khung chính sách khá đầy đủ khi Luật Người cao tuổi năm 2009 đã đặt nền móng cho các quyền được chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội và ưu tiên khám, chữa bệnh. Trên nền móng này, Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định mức trợ cấp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi, còn Nghị định 176/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/7/2025 - đánh dấu bước tiến đáng chú ý khi hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 80 xuống 75 với mức 500.000 đồng/tháng kèm thẻ bảo hiểm y tế đã giúp hàng triệu người cao tuổi có thêm điểm tựa tài chính.
Tiếp theo đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 9/9/2025 mở ra một tầm nhìn xa hơn: toàn dân (trong đó người cao tuổi là nhóm ưu tiên) - sẽ được khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất 1 lần/năm, lập hồ sơ sức khỏe điện tử, đồng thời phát triển hệ thống bệnh viện lão khoa và mở rộng cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Chủ trương này cũng đã được cụ thể hóa qua Quyết định 1116/QĐ-TTg (22/6/2026), sửa đổi Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030.
Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế vận hành, Việt Nam hiện vẫn đang còn thiếu một mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn (long-term care) đúng nghĩa: Phần lớn người già vẫn dựa con cháu chăm sóc tại nhà, cơ sở dưỡng lão công lập rất hạn chế về số lượng và các dịch vụ tư nhân lại có chi phí quá khả năng của đa số hộ gia đình; đội ngũ điều dưỡng được đào tạo chuyên sâu về lão khoa vẫn còn thiếu hụt lớn so với tốc độ già hóa dân số.
Kinh nghiệm quốc tế
Trên thế giới, có thể thấy ba cách tiếp cận cho bài toán chăm sóc người cao tuổi. Nhật Bản là quốc gia già hóa dân số sớm và sâu nhất thế giới, đã đưa vào sử dụng hệ thống bảo hiểm Chăm sóc dài hạn (Kaigo Hoken) từ năm 2000. Theo đó, mọi công dân từ 40 tuổi bắt buộc phải đóng phí bảo hiểm và từ 65 tuổi (hoặc sớm hơn nếu mắc bệnh liên quan đến tuổi già) sẽ được đánh giá mức độ suy giảm chức năng để hưởng dịch vụ chăm sóc tương ứng, từ hỗ trợ tại nhà đến chăm sóc nội trú. Đây được xem là mô hình bảo hiểm xã hội chuyên biệt cho người già thành công nhất châu Á và tách biệt khỏi bảo hiểm y tế thông thường.
Còn các nước Bắc Âu như Đan Mạch và Thụy Điển theo đuổi triết lý “già hóa tại nhà” (ageing in place). Nhà nước cung cấp dịch vụ điều dưỡng, chăm sóc cá nhân tại gia gần như miễn phí, ưu tiên giữ người già trong môi trường quen thuộc thay vì đưa vào viện dưỡng lão và đồng thời đầu tư mạnh vào đội ngũ điều dưỡng cộng đồng được đào tạo bài bản.
Trong khi đó, Singapore lựa chọn mô hình kết hợp giữa nhà nước, thị trường và cộng đồng. Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ y tế theo hệ như Pioneer Generation Package và Merdeka Generation Package dành cho nhóm dân số cao tuổi cụ thể, song song với một chương trình bảo hiểm chăm sóc dài hạn bắt buộc và kết hợp với mạng lưới trung tâm chăm sóc ban ngày tại cộng đồng để người già có thể sống cùng gia đình nhưng vẫn được chăm sóc chuyên nghiệp vào ban ngày.
Có thể thấy, các mô hình trên tuy khác nhau về mức độ can thiệp của nhà nước, nhưng đều có điểm chung: Xem chăm sóc dài hạn là một trụ cột an sinh riêng, được thiết kế bài bản và có nguồn tài chính bền vững, chứ không phó mặc hoàn toàn cho gia đình.
Những bài học giá trị
Điểm chung dễ nhận thấy của các hệ thống thành công là đều xây dựng được một quỹ hoặc cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn tách biệt, không gộp chung thay vì trông chờ hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, đồng thời có cơ chế trợ cấp cho nhóm thu nhập thấp để không ai bị bỏ lại vì không đóng nổi phí.
Bài học tiếp theo là đẩy nhanh mạng lưới bác sĩ gia đình và nhân lực lão khoa tại trạm y tế xã, phường theo đúng tinh thần Nghị quyết 72-NQ/TW, giảm tải cho bệnh viện tuyến trên. Bên cạnh đó, có thể phát triển các trung tâm chăm sóc ban ngày theo mô hình Nhật Bản và Singapore - nơi người già được đưa đón đến sinh hoạt, ăn uống, phục hồi chức năng ban ngày rồi trở về nhà buổi tối. Đây là mô hình đặc biệt phù hợp với Việt Nam vì vừa giảm gánh nặng cho gia đình có người đi làm, vừa không phá vỡ truyền thống sống nhiều thế hệ trong một mái nhà, không đòi hỏi chuyển ngay sang mô hình viện dưỡng lão tập trung như phương Tây.
Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn vào sự khác biệt về nguồn lực thì mức thu nhập bình quân của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với Nhật Bản hay các nước Bắc Âu ở thời điểm họ triển khai các hệ thống này. Vì vậy, để tìm được mô hình phù hợp với nước ta cần phải có sự chọn lọc, thiết kế lộ trình phù hợp với ngân sách và tốc độ già hóa dân số của chính Việt Nam.
Nghị quyết 72-NQ/TW cùng các văn bản cụ thể hóa gần đây cho thấy một sự chuyển hướng đúng, từ trợ cấp mang tính hỗ trợ thành một tầm nhìn chăm sóc sức khỏe toàn diện, chủ động cho người cao tuổi. Chăm sóc người cao tuổi không nên chỉ là câu chuyện của riêng ngành y tế, mà là bài toán an sinh xã hội tổng thể, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, chuẩn xác khi dân số vẫn còn đang trong “thời kỳ vàng” và là cách để Việt Nam tránh rơi vào nghịch cảnh: già trước khi giàu, ốm trước khi được chăm sóc.
Nếu Việt Nam không hành động sớm, cái giá phải trả sẽ không chỉ còn là những con số thống kê mà là gánh nặng lên chính từng hộ gia đình. Với tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, cánh cửa để chuẩn bị một hệ thống an sinh bài bản và một cơ chế tài chính chuyên biệt cho chăm sóc dài hạn đang hẹp lại rất nhanh. Gánh nặng khi đó sẽ dồn lên vai thế hệ trung niên hiện nay khi họ sẽ vừa phải nuôi con nhỏ và chăm sóc cha mẹ già. Trong khi đó, quỹ bảo hiểm y tế và ngân sách trợ cấp xã hội sẽ ngày càng quá tải cùng tỷ lệ người ở độ tuổi lao động trên mỗi người cao tuổi giảm dần.
Lúc này, các gia đình sẽ phải tìm đến các dịch vụ chăm sóc tư nhân chi phí cao, không có kiểm định chất lượng hoặc phải có người nghỉ việc ở nhà để chăm sóc người thân - một sự đánh đổi âm thầm nhưng mang đến thiệt hại lớn trên quy mô cả xã hội. Thêm nữa, các bệnh viện tuyến trên vẫn tiếp tục quá tải vì thiếu hệ thống chăm sóc tại nhà và trung tâm ban ngày để san sẻ. Những bệnh mạn tính của tuổi già vốn cần theo dõi thường xuyên thay vì điều trị cấp tính, nếu không được kiểm soát tốt từ sớm sẽ chỉ khiến chi phí y tế tăng theo thời gian.
Càng để lâu, chi phí chăm sóc dài hạn càng tăng nhanh hơn khả năng chi trả, khiến cho việc xây dựng một hệ thống bảo hiểm hay quỹ chăm sóc chuyên biệt sau này sẽ tốn kém và khó khả thi hơn rất nhiều so với việc bắt đầu ngay từ bây giờ, khi Việt Nam còn đang ở thời kỳ “dân số vàng”.