Từ chính sách dân tộc được duy trì bền bỉ qua nhiều nhiệm kỳ, mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp hôm nay đánh dấu một bước chuyển về chính sách: Từ hỗ trợ tiếp cận sang kiến tạo cơ hội phát triển dài hạn cho thế hệ trẻ nơi phên dậu, bảo đảm công bằng trong tiếp cận tri thức.
Khi bán trú vận hành như nội trú
Một buổi sáng mùa đông cuối năm, bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy (tỉnh Thanh Hóa) vẫn chìm trong sương mù. Trong căn nhà nhỏ lợp mái tôn, Sùng Thị Diệu Châu - cô học trò lớp 6 người H'Mông - thức dậy khi trời còn tối. Em theo mẹ băng núi tới trường, vượt gần 10 km đường rừng. Trời mưa, lối đi trơn trượt, đá tai mèo nhọn sắc hai bên, những khúc cua dựng đứng ướt sũng. Ngồi sau lưng mẹ, Châu không dám chợp mắt, ánh nhìn bám theo vệt bánh xe cũ, nín thở qua từng đoạn đường lầy lội.
Con đường đến trường đã gian nan, nhưng điều kiện học tập phía sau cánh cửa lớp học cũng không bớt nhọc nhằn. Gần 200 học sinh, trong đó có Châu, ở lại suốt tuần trong dãy nhà bán trú đã xuống cấp. Mùa hè nóng hầm hập, mùa mưa tường ngấm nước, nỗi lo chập điện, cháy nổ luôn rình rập sau những mảng tường bong tróc. Không có cấp dưỡng, bếp ăn chưa đạt chuẩn; thầy trò thay nhau nấu nướng, giặt giũ, lo toan sinh hoạt như trong một gia đình đông con.
“Các em ở trường cả tuần, chỉ cuối tháng mới được về nhà đôi ngày”, thầy Phạm Hoài Nam, giáo viên Trường phổ thông Dân tộc bán trú, trung học cơ sở (PTDTBT THCS) Sơn Thủy chia sẻ. “Danh nghĩa là bán trú, nhưng sinh hoạt chẳng khác nào nội trú. Gạo có sẵn, nhưng bữa ăn phải tính toán từng đồng. Phòng ở xuống cấp đã lâu mà chưa biết trông vào đâu để sửa”.
Trong căn phòng làm việc cũ kỹ, thầy Phạm Văn Thành - Hiệu trưởng nhà trường - trăn trở: Giáo viên và học sinh chỉ được hưởng chế độ bán trú, chưa bằng một nửa so với nội trú. Không có nhân viên phục vụ, không có cấp dưỡng, từ bữa cơm đến giấc ngủ, mọi việc đều do thầy trò tự xoay xở.
Câu chuyện ở Sơn Thủy không phải là cá biệt. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), cả nước hiện có 956 trường phổ thông tại 248 xã biên giới, phần lớn là trường thường hoặc bán trú, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu hụt: phòng học xuống cấp, thiếu nhà ở bán trú, nhà vệ sinh, thiết bị dạy học tối thiểu. Hơn 273 nghìn học sinh vùng biên - chiếm gần 44% - có nhu cầu học nội trú hoặc bán trú nhưng chưa được đáp ứng. Thiếu trường, nhiều em phải đi bộ hàng chục cây số đến lớp; việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng học tập trở thành thách thức dai dẳng.
Từ những nỗ lực mang tính tình thế nhằm “giữ chân học sinh”, thực tiễn vùng biên đang đặt ra một đòi hỏi căn cơ hơn: đầu tư không chỉ để các em đến lớp, mà để có thể học tập lâu dài, ổn định và yên tâm ở lại trường.
Ngay trên nền đất của Trường PTDTBT THCS Sơn Thủy, một ngôi trường mới đang dần thành hình - trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp đầu tiên tại xã biên giới này. Với Diệu Châu, đó đơn giản là một ngôi trường gần hơn, nơi em không còn phải dậy từ tờ mờ sáng để đi học, có chỗ ngủ yên lành, bữa cơm đủ đầy, ánh điện không phụt tắt mỗi khi mưa về. Nhưng phía sau mong ước rất đời thường của Diệu Châu là một chuyển động lớn về chính sách - một chủ trương chưa từng có tiền lệ...
Để hành trình gieo chữ bớt nhọc nhằn
Ngày 18/7/2025, Bộ Chính trị ban hành Thông báo kết luận số 81-TB/TW, thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng mạng lưới 248 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học - THCS tại 248 xã biên giới đất liền trên cả nước. Theo lộ trình, giai đoạn 1 sẽ triển khai xây dựng 100 trường, dự kiến hoàn thành trước tháng 8/2026 để kịp đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027.
Lần đầu tiên, học sinh vùng biên, không phân biệt dân tộc, được thiết kế một mô hình học tập, ăn ở trọn vẹn ngay tại chính nơi các em sinh sống. Trên cơ sở chủ trương này, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao nhiệm vụ tham mưu các cơ chế triển khai phù hợp. “Bộ sẽ tham mưu mô hình tài chính và cơ chế hoạt động đồng bộ, bảo đảm học sinh vùng biên được học tập trong điều kiện không thua kém vùng trung tâm”, Vụ trưởng Giáo dục Phổ thông Thái Văn Tài cho biết.
Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tế là cả chặng đường dài, đòi hỏi cách làm linh hoạt, tránh rập khuôn. Theo ông Tạ Hồng Lựu, Quyền Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, không thể áp dụng máy móc một mô hình cho mọi địa phương, bởi mỗi xã biên giới là một bài toán riêng - từ quỹ đất, giao thông, nguồn điện đến nước sinh hoạt. Thực tế tại xã Lũng Nặm (Cao Bằng), nơi người dân còn phụ thuộc vào nước mưa, cho thấy hạ tầng phải được tính toán ngay từ khâu thiết kế, với hồ và bể chứa lớn để bảo đảm sinh hoạt lâu dài.
Không dừng ở trường lớp, mô hình nội trú liên cấp đặt ra yêu cầu về một không gian nuôi dưỡng con người một cách toàn diện. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa lưu ý: Khẩu phần dinh dưỡng cho học sinh lớp 1 không thể giống học sinh THCS; từ giấc ngủ, bữa ăn đến thói quen sinh hoạt, phong tục bản địa - mọi chi tiết đều cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Chính những yếu tố tưởng như nhỏ ấy mới tạo nên nền tảng bền vững cho sự phát triển lâu dài của thế hệ học sinh vùng biên.
Để hiện thực hóa chủ trương, bài toán hạ tầng phải song hành với bài toán nguồn lực. Mỗi trường dự kiến được đầu tư khoảng 150 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, bao gồm cả chi phí xây dựng và vận hành lâu dài. “Không chỉ xây vài tòa nhà là xong, điều quan trọng là tổ chức vận hành bền vững”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.
Song hành với nguồn lực tài chính là đội ngũ giáo viên - yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Bộ GD&ĐT đang phối hợp với 22 tỉnh biên giới để tuyển dụng, đào tạo giáo viên, ưu tiên người dân tộc thiểu số, thông thạo tiếng bản địa. Các trường sư phạm được giao nhiệm vụ đào tạo dài hạn nguồn nhân lực này, bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt: ở đâu có học sinh, ở đó có thầy cô.
Cùng với nhân lực, khung thể chế cho mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp đang được gấp rút hoàn thiện. Bộ GD&ĐT cho biết sẽ sớm ban hành quy chế tổ chức thống nhất trên toàn quốc, đi kèm chính sách ăn ở, hỗ trợ học tập và chế độ đãi ngộ giáo viên. Đáng chú ý, sáng kiến kết nghĩa giữa các tỉnh đồng bằng và trường vùng cao đang được triển khai. “Chúng tôi khuyến khích các trường miền xuôi hỗ trợ chuyên môn, thiết bị cho các trường vùng biên”, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh, để những mái trường nơi phên dậu không đơn độc, mà luôn có hậu phương vững chắc cùng đồng hành.
Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2030 là cơ bản thu hẹp khoảng cách chênh lệch về giáo dục giữa miền núi và đồng bằng, bảo đảm mọi trẻ em vùng biên đều được học tập bình đẳng, có chất lượng. Xa hơn, trong tầm nhìn đến năm 2045 - khi Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 20 nền giáo dục hàng đầu thế giới - việc nâng mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực biên giới không còn là vấn đề cục bộ, mà trở thành một phần quan trọng của chiến lược phát triển quốc gia bền vững. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy nhận định, hệ thống chính sách hiện hành đã bao quát cả người học, người dạy và công tác quản lý giáo dục, song cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế đặc thù về tuyển dụng, luân chuyển và đãi ngộ để giải quyết căn cơ bài toán thiếu giáo viên ở vùng khó.
Nếu đúng tiến độ, từ năm học 2026-2027, những ngôi trường nội trú đầu tiên sẽ đón học sinh vùng biên. Giai đoạn đầu xây dựng 100 trường thí điểm, tiến tới hoàn thành toàn bộ 248 trường trước năm 2030. Khi ấy, dọc theo biên cương Tổ quốc sẽ hình thành một mạng lưới trường học mới, góp phần nâng cao dân trí, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân. Và ở những bản làng xa xôi, các em nhỏ người H'Mông, Dao, Thái... sẽ tung tăng bước vào lớp học mới, nơi khát khao học tập không còn là mong ước xa vời, mà trở thành hiện thực sau bao mùa đợi chờ.
Tại lễ khởi công một trường nội trú ở Sơn La, Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung khẳng định, xây dựng trường học vùng biên là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đó không chỉ là công trình giáo dục, mà còn là công trình của lòng dân, của ý Đảng - hiện thực hóa cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”.