So với thanh niên cùng trang lứa ở plei (làng) Tu Tra (Lâm Đồng) thì “giá” của mình có cao hơn mấy phần. Bên nhà vợ qua bắt mình về làm chồng phải dắt qua sáu con trâu đen béo mẫm, ba con heo trắng dài “năm gang” và nhiều vòng bạc, nhẫn bạc, dây cườm, thổ cẩm để làm quà cho họ hàng và mở tiệc ăn uống đến năm ngày bốn đêm…”.
Đó là chuyện thời cụ ông Ya Loan được vợ “bắt” cách đây hơn sáu thập niên. Cứ tưởng rằng, tục thách cưới chỉ còn trong ký ức các tộc người Tây Nguyên, hóa ra không phải vậy. Mùa cưới này, tôi đã đến với nhiều buôn làng và chứng kiến, cái hủ tục làm nghèo nhiều gia đình không hề mất đi mà có vẻ như ngày càng phổ biến và nặng nề hơn. Xưa nhà gái chỉ “đổi” cho con gái “lấy” chồng về bằng trâu, bò, heo và các vật phẩm truyền thống, thì nay họ còn phải “chung” thêm những khoản tiền không nhỏ.
Mùa “bắt chồng”
Nhiều tộc người ở Tây Nguyên như Cơ Ho, Ê Đê, Chu Ru, Jrai… theo dòng mẫu hệ. Khác với người Kinh con trai đi hỏi vợ, thì ở miền đại ngàn, các cô gái chủ động đi “bắt chồng”. Trai gái trong các buôn làng bước vào mùa cưới trong những ngày cuối vụ thu hoạch, thường từ tháng giêng đến tháng tư hằng năm. Đó là lúc mà mùa màng vừa xong, lúa đã trơ cuống rạ, những hạt cà-phê cuối cùng đã yên vị góc nhà. Những cô gái và chàng trai miền sơn cước làm cổ động viên kéo nhau theo sơđíu (cô dâu) đi kiếm pờsang (chú rể). Lúc mặt trời chực chờ xuống núi, đám đi dạm hỏi chuẩn bị bắt đầu và đám hỏi ấy sẽ kết thúc khi bình minh ló dạng từ đỉnh núi.
Ở buôn Krăng Gõ (xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng), già làng Ma Ngôn là người hiểu biết đầy đủ phong tục cưới xin truyền thống của đồng bào Chu Ru. Già nói, ngày xưa, thằng trai nào “được mắt”, nhà gái sẽ âm thầm chuẩn bị lễ vật rồi chọn một đêm tối trời nào đó kéo sang họ nhà trai. Thương lượng được thì bắt chồng, không được thì cả họ gái kéo về, đợi đến một ngày khác quay lại hoặc bỏ luôn nếu chuyện không suôn sẻ. Tôi hỏi: Sao đi bắt chồng lại chọn ban đêm? Già Ya Ngôn chia sẻ: “Phải đi trong đêm tối, vì may được nhà trai thuận ý thì tốt, còn không thì cũng về trong đêm, nếu không người ta nhìn thấy thì xấu hổ lắm!”. Già Ma Ngôn chỉ tay sang cô cháu gái: “Con Ma Ny, mày kể chuyện bắt chồng cho nhà báo nghe đi!” Được sự mở lời của ông cậu, dù nay con cái đã trưởng thành nhưng chị Ma Ny vẫn còn ngượng nghịu khi kể với tôi về cái đêm cả dòng họ do ông cậu dẫn đầu kéo về nhà chị để chuẩn bị đi “chạm ngõ” nhà trai bên vùng D’ran. Trời sâm sẩm tối, mọi người đang tất bật xếp rượu, xếp khăn và cặp nhẫn cưới bằng bạc chuẩn bị qua phía nhà trai thì cô dâu tương lai lóng ngóng trong bộ đồ thổ cẩm ngồi đợi ở góc phòng. Ma Ny kể rằng, dù trong cái bụng đã tỏ là “thằng” Ya Huynh nó thương mình từ lâu, nhà trai chắc sẽ không từ chối lễ hỏi, nhưng vẫn hồi hộp lắm. Lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong đời người con gái, Ma Ny đi “bắt chồng” mà. Đêm ấy là một đêm cuối năm. Bây giờ thì Ya Huynh đã là chồng của Ma Ny được hơn hai mươi mùa rẫy. Nhà Ma Ny hồi đó nghèo lắm, họ thương nhau và dòng họ nhà trai này có lòng cảm thông nên thách cưới không cao; từ đám hỏi đến đám cưới đều không rườm rà tiền bạc, lễ vật. Dẫu vậy, đằng nhà gái vẫn không bỏ sót thứ lễ vật và thủ tục gì theo phong tục cưới xin truyền thống của tộc người mình.
Thường thì lễ vật trong đám cưới truyền thống của người Chu Ru bao gồm tiền, vàng, vòng bạc, dây cườm, các loại vải dệt thổ cẩm. Khăn trắng của người Chăm tốt nhất giá 300-500 nghìn đồng, nhưng khăn đen của người Cơ Ho giá đến cả chỉ vàng một chiếc. Khăn là vật rất quý của đồng bào Chu Ru, dùng để quấn quanh người như áo ấm. Trong đám hỏi, khi nhà trai đã ưng thuận rồi, sẽ giao một căn phòng riêng cho đôi trẻ. Cô dâu và chú rể sẽ trùm chung một tấm khăn lớn, cầm chung một chiếc liềm và bước vào phòng. Tấm khăn và chiếc liềm tượng trưng cho sự đầm ấm, ăn nên làm ra. Già Ma Ngôn nói: “Khoảng 3-4 giờ sáng thì hai vợ chồng trùm khăn và cầm liềm bước ra khỏi phòng, nhà gái đón và nhà trai cùng đưa con trai tới nhà bên vợ, đưa trong đêm luôn…”.
Thông thường, sau đám hỏi, cô dâu về nhà chú rể sống khoảng tám ngày. Cô dâu mới phải làm việc để giúp gia đình chồng chăm lo vườn tược, sắm sửa cửa nhà. Sau đó, nhà gái sẽ làm một mâm lễ sang trọng mang sang nhà trai để đón con gái và xin con rể về. Lúc này bố mẹ chú rể nếu có điều kiện sẽ cho con mình một con trâu, bốn gùi lúa giống, nồi niêu, chén bát để làm của hồi môn. Đôi trẻ chính thức thành vợ thành chồng. Trong khoảng thời gian này, nhà gái và nhà trai thường tổ chức ăn uống, đánh đồng la, thổi kèn và xoang mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ…
“Giá” của hạnh phúc
Chuyện hạnh phúc của vợ chồng Ma Ny và Ya Huynh thì quá suôn sẻ, nhưng không phải nhà ai, ở tộc người nào, buôn làng nào cũng vậy. Ngay như cộng đồng người Chu Ru ở plei (làng) Kan Kil, plei Próh Ngoh (xã Đơn Dương) hay plei Ma Bó (xã Đức Trọng) thuộc tỉnh Lâm Đồng vẫn còn tồn tại hủ tục thách cưới nặng nề mỗi khi người phụ nữ đến tuổi “kiếm tấm chồng”. Già làng Ya Du, trưởng thôn Próh Ngoh, cho biết, nhiều nhà trong plei còn thách cưới cao, ngoài các vật phẩm truyền thống vẫn phải giao thêm từ 2 cây vàng trở lên.
Bà Tu Teng Ma Bao có đến chín người con, năm trai và bốn gái. Ba con trai đã đi lấy vợ, bà cũng “đòi” được của nhà gái đưa mỗi đứa từ hai cây vàng, nhưng rồi làm tiệc ăn uống hết. Khi con gái bà bắt chồng, các nhà trai quyết liệt đòi số vàng cao hơn. Cực chẳng đã, bà Ma Bao đã phải bán dần cho đến những mảnh ruộng cuối cùng và giờ sống một mình trong một căn nhà tình thương nhỏ bé, bên cạnh một túp lều cũ rách dùng làm bếp và phải kiếm sống từ mót lúa và bắt cua đồng. Những người mẹ khác như Tu Prong Mapia (80 tuổi, người Chu Ru ở Plei Ka Đê), Jơ Lâng Ma Ních (78 tuổi, người Cơ Ho ở buôn Próh Ngóh)... cũng khuynh gia bại sản để cho 5-6 cô con gái của họ được đi “bắt chồng”. Nhiều gia đình khác trở thành “chúa chổm” vì phải lo “kinh phí bắt chồng cho con”. Nhà bà Pdum Ma Nhen, người Chu Ru ở xã Quảng Lập: Cô con đầu “bắt chồng”, nhà trai “chỉ đòi” 8 chỉ vàng, 5 triệu tiền mặt, 10 cái khăn, 15 dây cườm. Đến con thứ, nhà trai đòi 1 cây vàng, 50 triệu đồng tiền mặt, 15 cái khăn, 17 dây cườm. Đám cưới đầu tiên bà Ma Nhen đi vay 50 triệu đồng, thỏa thuận nộp cho chủ nợ 100 bao lúa. Cô thứ hai đi “bắt chồng”, bà cho thuê 2 sào ruộng trong 10 năm để đổi lấy chừng đó vàng và vay thêm 5 chỉ nữa, mỗi chỉ vàng phải trả mấy trăm nghìn đồng tiền lãi một tháng. Tính nguyên tiền lãi, mỗi tháng bà Ma Nhen phải trả 5 triệu 500 nghìn đồng. Một số tiền cực lớn đối với một hộ nghèo người dân tộc thiểu số!…
Việc thách cưới cao hay thấp tùy thuộc vào dòng họ của nhà trai lớn hay nhỏ và tùy thuộc vào “giá” của chàng con rể tương lai. Chàng rể học cao, khỏe mạnh, đẹp trai thì tiền thách cưới cao hơn. Ngày nay, nhà trai thường “ra giá” từ 200 triệu đến 300 triệu đồng tiền thách cưới cùng các lễ vật truyền thống. Nếu như nhà trai không chịu cho con của họ về nhà gái, họ sẽ làm khó, đòi nhà gái thêm một lần tiền như vậy nữa mới được “bắt” về. Bởi vậy, nếu sơn nữ nhà nghèo không bắt được chồng về thì phải theo về ở nhà trai, khi nào làm gom đủ số vốn “trả nợ” lúc thách cưới mới được phép đón chồng về nhà mình. Cũng có nhiều trường hợp vì thách cưới quá cao, nên hai bên trai gái ăn ở với nhau có mấy mặt con rồi thì người vợ mới gom góp đủ tiền để làm lễ cưới.
Vì thách cưới cao nên rất nhiều nhà trai người Chu Ru, Cơ Ho, Jrai, M’Nông… ở những vùng tôi đến không cho nhà gái tổ chức đám cưới, nếu chưa giao đủ tiền bạc, lễ vật. Ở cộng đồng Chu Ru, tất cả những trường hợp nợ do bắt chồng trước đây, nếu để qua ba đời mà không trả được, khi “con nợ” chết gia đình vẫn phải làm thịt trâu, bò để cúng. Ở những đám cưới “trả nợ” này, dân làng vẫn đến dự, nhưng rất lạ là tất cả đều không ăn uống. Còn với tộc người Cơ Ho, luật tục cho phép trong hoàn cảnh quá ngặt nghèo gia đình phía vợ được nợ các lễ vật trong đám cưới. Họ có thể trả dần và dĩ nhiên đôi vợ chồng trẻ phải nai lưng ra làm để trả. Trong trường hợp cặp vợ chồng này không trả hết thì đến đời con, đời cháu phải trả.
Ðám cưới người dân tộc thiểu số bây giờ cũng linh đình hơn, làm tiệc lớn, có khi kéo dài mấy ngày, có nhạc sống, có trống chiêng thâu đêm suốt sáng. Lại phát sinh thêm những nguồn kinh phí lớn để “đầu tư” cho hạnh phúc lứa đôi.
Phận nghèo, đành phải phân ly
Mùa cưới, vốn là mùa của những đôi uyên ương hạnh phúc. Thế nhưng, ít có cặp đôi may mắn khi lễ vật cho lễ “bắt chồng” bảo đảm phong tục truyền thống nhưng không mang tính vật chất quá cao. Không phải nhiều cô dâu được cảm thông như nhà chị Ma Ny mà tôi kể trên. Cũng không phải nhà có con gái “bắt chồng” nào cũng có thể lo đủ lễ vật, tiền bạc thách cưới để “mua” được cho con tấm chồng tử tế. Nhiều gia đình ở nhiều tộc người đã lâm vào hoàn cảnh khốn khó vì nhà trai thách cưới quá cao. Nhiều đôi trẻ thương nhau muốn được xây dựng hạnh phúc đành phải dứt tình vì gia cảnh bần hàn mà phải đương đầu với hủ tục.
Chuyện nhà nghèo mà đành phải đoạn duyên của chị Ka Hoẻh ở buôn B’Tạch (xã Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng) thật buồn. Giờ thì Ka Hoẻh đang sống đơn thân ở tuổi ba mươi lăm, trong lời kể của chị có sự ngậm ngùi và vị mặn nước mắt. Hồi đó, tuổi mười tám, chị ưng “thằng” K’Sen cùng buôn. Ka Hỏeh nói với mẹ. Mẹ chị vừa mừng vừa lo: “Tao thấy K’Sen là thằng trai khỏe mạnh, chăm lo làm rừng làm rẫy, nhưng nhà mình nghèo, liệu người ta có thách cưới cao không?!”. Rồi một đêm của mười mấy năm trước, đoàn họ hàng nhà Ka Hỏeh mang theo ghè rượu và con gà trống qua bên nhà cha mẹ K’Sen gạn chuyện bắt chồng. Nghe theo lời ông cậu, bà Ka Blình mẹ của K’Sen “ra giá”: “Con Ka Hoẻh muốn bắt thằng K’Sen làm chồng thì phải có lễ là ba con bò sống, ba con heo sống, ba tạ gạo nếp thơm để làm cơm mời họ hàng, buôn làng; vòng cườm và khăn thổ cẩm đủ để làm quà cho tất cả khách khứa dự lễ. Ngoài ra, còn phải nộp cho nhà mình 30 triệu đồng…”. Số lễ vật đó, số tiền đó quá lớn, trong khi nhà Ka Hoẻh đến bữa cơm còn không đủ ăn. Đêm ấy về, mẹ chị vừa khóc vừa nói: “Ka Hoẻh ơi! Tao thương mày lắm nhưng nhà mình nghèo, lại đông con gái, tao không biết lấy đâu tiền mà lo cho mày!...”. Từ đó, Ka Hoẻh không dám nghĩ đến chuyện “bắt chồng” nữa. Càng ngày chị càng buồn hơn, u trầm và héo hon hơn. Tháng năm cứ trôi và người con gái Cơ Ho ấy đã qua tuổi xuân thì lúc nào chẳng biết.
Cũng giống như Ka Hoẻh, trong các buôn làng Tây Nguyên, có rất nhiều phụ nữ độc thân lọ mọ đơn độc trong những góc nhà sàn tăm tối do không bắt được chồng vì nhà nghèo, không có tiền, vàng; vì hình thức không đẹp; vì cha mẹ không có con trai để trao đổi cho nhau. Theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ có quyền lực và được quý trọng hơn nam giới, nhưng trước gánh nặng của tập tục thách cưới, giờ đây nhiều gia đình dân tộc thiểu số muốn sinh cả con trai con gái để thực hiện “giải pháp” lấy qua bù lại. Tục thách cưới cao đã gây hệ lụy đến cả chuyện kế hoạch hóa gia đình. Và hơn hết, hủ tục đã làm cho sự nghèo túng mãi mãi đeo bám trên những mái nhà, buôn làng, những nẻo đường cao nguyên. Ông Ya Bây ở plei Ma Bó (xã Tà Năng, tỉnh Lâm Đồng) một người đàn ông Chu Ru có năm người con gái than thở: “Bây giờ một nhà có nhiều con gái như tao là khó khăn lắm; nào phải chia ruộng đất, trâu bò cho nó; nếu nó xấu, không bắt được chồng thì phải nuôi nó; nếu bắt chồng được thì tiền thách cưới cả mấy cây vàng, mấy trăm triệu nhà trai mới chịu”.
Đúng như lời của ông Ya Bây, quả thật, ở một số tộc người, một số vùng, những gia đình có đến năm, bảy cô con gái thì coi như là tai họa trên trời rơi xuống. Vì thế mà có nhiều nhà chỉ đủ tiền bắt chồng cho một, hai con gái của mình, số còn lại đành chấp nhận “ở giá”. Một cán bộ phụ nữ xã thống kê giùm tôi, riêng một thôn của xã chị đã có tới 16 cô không thể bắt được chồng. Hôm rồi tôi mới đến buôn Đạ Long thuộc xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) cũng vậy. Khi rời buôn rồi mà còn văng vẳng theo lời than thở thườn thượt của bà Ka Hơn: “Đã nghèo thì khó mà kiếm nổi tấm chồng. Mấy đứa cháu gái của tao đấy, tuổi thì lớn rồi, cũng cao ráo xinh đẹp nhưng mà chưa hy vọng gì chuyện xây dựng gia đình. Cha mẹ tụi nó nghèo, đành phải chịu sự hẩm hiu của phận gái nhà khó trong một tộc người theo dòng mẫu hệ…”.
Bà Cil Bri, Đại biểu Quốc hội,
Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng:
Nạn thách cưới cao gây ra nhiều hệ lụy. Cũng vì món nợ cưới xin mà nhiều gia đình thường xuyên mâu thuẫn, ảnh hưởng đến hạnh phúc... Chúng tôi tích cực phối hợp với các cấp, các ngành, huy động các già làng, những người có uy tín, tuyên truyền viên cơ sở “đi từng ngõ, gõ từng nhà” tuyên truyền, vận động bà con thực hiện nếp sống văn minh, xóa bỏ hủ tục, trong đó có tục thách cưới cao tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ở một số nơi, chính quyền áp dụng xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhưng hình thức này không được khuyến khích nhiều. Đối với bà con dân tộc thiểu số, việc tuyên truyền “mưa dầm thấm lâu”, giúp họ nhận biết đúng, sai và thay đổi nhận thức mới là điều thật sự quan trọng.