Quá trình đàm phán gia nhập WTO kéo dài mười một năm, trải qua 14 phiên đàm phán đa phương, hàng trăm cuộc đàm phán song phương với 28 đối tác có yêu cầu, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước am hiểu vấn đề gia nhập WTO cũng đã nêu ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng, do vậy, đối với người dân Việt Nam, không ít thì nhiều cũng có một chút khái niệm về WTO.
Có thể còn rất nhiều người chưa hiểu được cặn kẽ, chưa biết hết cơ hội và thách thức khi tham gia tổ chức thương mại mang tính toàn cầu này, nhưng được xem những hình ảnh về thời khắc ở phòng họp chung tại Trụ sở của WTO khi Tổng giám đốc P.Lamy gõ búa thông qua ba văn kiện quan trọng về việc Việt Nam gia nhập WTO, không ai là không có chút tự hào, xen lẫn cảm xúc lâng lâng khó nói thành lời.
Trong bài đăng trên báo Nhân Dân điện tử ngày 7-11, với nhan đề "Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, cơ hội - thách thức và hành động của chúng ta", Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã lý giải cặn kẽ: Ðiều gì sẽ diễn ra khi chúng ta tham gia WTO; đâu là cơ hội mà chúng ta có thể và cần phải tận dụng; những thách thức nào mà chúng ta phải nhận biết để vượt qua; để tận dụng cơ hội, vượt qua thử thách chúng ta phải làm gì.
Giờ đây, mỗi người chúng ta, nhất là các doanh nhân, các nhà quản lý có thể tĩnh tâm để nhìn lại công việc và trách nhiệm cụ thể của mình. Chúng ta đã có kinh nghiệm của hơn 20 năm đổi mới, đã được "cọ xát" trong quá trình hội nhập như: Phát triển quan hệ và mở cửa biên giới buôn bán với Trung Quốc; Tham gia Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN; Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương; Diễn đàn Hợp tác Á - Âu; Ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ...
Thái độ đúng đắn nhất hiện nay của chúng ta là không quá lạc quan, nhưng cũng không quá lo lắng; cần bình tĩnh, tự tin bước vào "sân chơi" mới với nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thử thách này. Dưới đây là ý kiến của các doanh nhân, các nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp chung quanh việc nước ta gia nhập WTO.
Bảo đảm để các doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh
| |
Khi nước ta chính thức trở thành thành viên WTO, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông chắc chắn sẽ khốc liệt hơn, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Thách thức đối với ngành BCVT - CNTT khi gia nhập WTO là không nhỏ, đó là quy mô mạng lưới của nước ta còn nhỏ bé, năng lực doanh nghiệp chưa cao, sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực về viễn thông, công nghệ thông tin của Việt Nam còn thiếu. Mặt khác, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với tình trạng chưa vững vàng về luật pháp, đặc biệt là các thông lệ, điều ước quốc tế.
Một trong những quy định của WTO trong lĩnh vực viễn thông là cơ quan quản lý nhà nước phải độc lập, bảo đảm đối xử bình đẳng, minh bạch đối với tất cả các doanh nghiệp viễn thông trong môi trường cạnh tranh. Bộ Bưu chính - Viễn thông đã tách bạch rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và sản xuất, kinh doanh.
Tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh đã giao quyền cho doanh nghiệp làm trực tiếp và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bộ chỉ có vai trò quản lý nhà nước bằng luật pháp, cơ chế chính sách và cấp phép. Sau đó, bộ thực hiện kiểm tra, thanh tra. Các văn bản pháp luật liên quan bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin đều được xây dựng, hoàn thiện trên nguyên tắc phù hợp các quy định của WTO.
Trong thời gian tới, bộ tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao hiệu quả quản lý cũng như thúc đẩy thị trường phát triển, bảo đảm cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, tăng sức cạnh tranh, tạo ra được nhiều sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao.
TRẦN ÐỨC LAI
Thứ trưởng Bưu chính - Viễn thông
Hội nhập và cạnh tranh
| |
Nếu như mấy năm trước nói về hội nhập thì ngành da giày Việt Nam nói chung và doanh nghiệp da giày nói riêng lo nhiều hơn bây giờ. Ngành da giày Việt Nam qua hai lần thực hiện AFTA và thực hiện đợt áp thuế vừa qua đã chứng minh sự vươn lên của mình, kim ngạch xuất khẩu không giảm mà tăng 20%, đơn hàng cũng tăng 20%.
Khi tham gia WTO, chúng tôi thấy ngành da giày Việt Nam có ba thuận lợi. Các nước muốn áp đặt hàng rào thuế quan với Việt Nam sẽ khó hơn nếu chúng ta biết dựa và nắm luật lệ quốc tế chung. Chúng ta sẽ có thêm nhiều đối tác sẵn sàng cung ứng nguyên phụ liệu từ A đến Z cho ngành da giày Việt Nam. Khách hàng trên thế giới sẽ biết đến Việt Nam nhiều.
Khó khăn thì nhiều song sẽ có hai khó khăn lớn là, có nhiều doanh nghiệp nhỏ bị phá sản hoặc giải thể nếu không nhanh nhạy tìm kiếm thị trường, đổi mới mẫu mã, chủ động tìm kiếm bạn hàng. Doanh nghiệp phải tự lo là chính chứ không được hỗ trợ như trước đây, trong khi doanh nghiệp da giày chủ yếu còn sản xuất nhỏ lẻ, gia công là chính.
Ðể ngành da giày chủ động hội nhập, chúng tôi cho rằng các doanh nghiệp nên chủ động liên kết thực hiện các đơn hàng lớn tiến tới cùng tập trung đầu tư cho trung tâm kinh doanh nguyên phụ liệu ở TP Hồ Chí Minh, song phải mang tính chất khu vực, tạo sản phẩm có mẫu mã mới cho cả người Việt Nam và thế giới.
Chủ động về mẫu mã, nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, có hệ thống phân phối phù hợp, giao hàng đúng hợp đồng sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động hội nhập và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nước ngoài. Hiện các tập đoàn phân phối lớn trên thế giới đã có mặt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh với hợp đồng mua cả tỷ USD, doanh nghiệp Việt Nam làm sao sản xuất kịp thời nếu không liên kết.
Ở Công ty cổ phần giày Thái Bình, do tự thiết kế mẫu mã, chủ động nguyên liệu, chất lượng giày đạt tiêu chuẩn quốc tế nên 100% sản phẩm xuất khẩu sang EU, Mỹ, kim ngạch xuất khẩu năm sau tăng hơn năm trước 30%. Cho đến nay chúng tôi đã thực hiện xong kế hoạch xuất khẩu năm 2006 là 1.100 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 80 đến 100 tỷ đồng.
Chúng tôi đã có văn phòng đại diện tại Trung Quốc, Ðài Bắc, PUSAN (Hàn Quốc) hiện đang tái cấu trúc giá trị gia tăng ngành giày cho phù hợp thông lệ quốc tế. Năm 2010, công ty phấn đấu trở thành tập đoàn da giày, kinh doanh đa dạng mặt hàng, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất cùng loại.
NGUYỄN ÐỨC THUẤN
Phó Chủ tịch Hiệp hội da giày Việt Nam,
Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần giày Thái Bình
Chất lượng tạo nên thương hiệu và uy tín
| |
Công ty cổ phần Cáp và vật liệu viễn thông (SACOM) đã chủ động hội nhập và cạnh tranh từ năm 2000 bằng việc đa dạng hóa sản phẩm cũng như chủ động liên doanh, liên kết, đầu tư tài chính vào các lĩnh vực mà SACOM tính toán là có lợi nhuận và đầu ra.
Chúng tôi đã đọc khá kỹ bài của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên báo Nhân Dân ngày 8-11. Ý chí chủ động hội nhập và cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước theo quan điểm của Ðảng ta thấy rất rõ. Tám năm nay, SACOM đầu tư trực tiếp hơn 1.000 tỷ đồng xây dựng chín nhà máy sản xuất mới. Ðầu tư gián tiếp sang sáu công ty và một quỹ đầu tư tài chính. Ước tính năm 2006 thực hiện doanh thu 1.350 - 1.400 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 175-180 tỷ đồng trong khi lao động trực tiếp chỉ có 800 cán bộ, công chức; trong đó lực lượng trẻ, kỹ sư chiếm 50%.
Ðáng chú ý là các nhà máy được xây dựng từ năm 1998-2000 đã khấu hao xong. Các nhà máy mới xây dựng trong năm 2006 dự kiến trong ba năm tới cũng sẽ khấu hao xong. Toàn bộ thiết bị dây chuyền sản xuất của các nhà máy đều thuộc loại hiện đại nhất Ðông-Nam Á. Sản phẩm của SACOM gồm tất cả các loại cáp điện trung cao thế, các loại cáp viễn thông, cáp quang điện, cáp tàu biển, tiến tới sản xuất các loại máy Mobil và Noto.
Chất lượng sản phẩm được coi là ưu tiên số một bởi chất lượng tạo nên thương hiệu và uy tín của SACOM, vì vậy ở tất cả các nhà máy đều thực hiện tiêu chuẩn ISO cũng như thực hiện khoán sản phẩm đến tận người lao động. Chúng tôi thực hiện đấu giá từ khâu mua vào nguyên liệu đến bán ra sản phẩm từ ba năm nay, cho nên việc hội nhập và cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng sản phẩm trên địa bàn, khu vực các nước ASEAN đã trở thành bình thường. Bây giờ khi tham gia WTO sẽ phải tính toán thêm đường đi nước bước cho phù hợp để lợi ích của SACOM tăng thêm.
Ðỗ Văn Trắc
Chủ tịch HÐQT kiêm
Tổng giám đốc SACOM
Viglacera tìm mọi biện pháp để hạ giá thành sản phẩm
| |
Trong những năm qua, Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng(Viglacera) luôn đi đầu trong việc đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất, đưa ra thị trường xây dựng nhiều loại sản phẩm gạch Ceramic, Granit, sứ vệ sinh, kính xây dựng... với chủng loại, mẫu mã phong phú, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Trước tình hình cạnh tranh trên thị trường vật liệu xây dựng ngày càng gay gắt. Cùng với việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan và bảo hộ, sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ rất lớn. Các đối thủ cạnh tranh của Viglacera khi đó không chỉ là các doanh nghiệp trong nước, mà sẽ có nhiều công ty đa quốc gia, với tiềm lực rất mạnh về vốn, công nghệ, chuyên gia, và cả kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường.
Ðể người tiêu dùng biết và sử dụng sản phẩm, Viglacera tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm, mở nhiều lớp đào tạo kỹ năng bán hàng cho đội ngũ nhân viên Marketing và nhân viên bán hàng của các đại lý, xây dựng phong cách bán hàng chuyên nghiệp, hiện đại, thực hiện quản lý chặt chẽ các chính sách bán hàng của các đơn vị thành viên, xây dựng chính sách bán hàng thống nhất, tránh cạnh tranh lẫn nhau giữa các đơn vị trong tổng công ty, đồng thời tìm mọi cách để hạ giá thành sản phẩm.
Viglacera cũng đã nộp đơn đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước bảo hộ thương hiệu Viglacera đối với tất cả các sản phẩm có liên quan trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và một số nước tham gia Thỏa ước Madrit về bảo hộ liên quốc gia đối với nhãn hiệu hàng hóa. Thiết lập "Sổ tay thương hiệu Viglacera" nhằm nêu bật sứ mệnh, tầm nhìn, phong cách và đặc tính của thương hiệu, đồng thời quy định sử dụng thống nhất thương hiệu Viglacera từ mầu sắc, kiểu chữ, hình ảnh, biển hiệu,... thể hiện trên bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, bảng, biển hiệu tại tổng công ty hay tại các đơn vị thành viên, để người tiêu dùng dễ nhận thấy và tránh nhầm lẫn với các sản phẩm khác.
Trần Ðình Thể
Chủ tịch HÐQT Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng
Cạnh tranh bằng chất lượng, hiệu quả
| |
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Hàng không Việt Nam đã mở đường bay quốc tế, do đó Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) phải cạnh tranh gay gắt trong thời gian dài. Vào WTO là thời cơ lớn, nhưng thách thức ở cấp độ cao hơn. Thị trường hàng không mở rộng và tăng mạnh tạo điều kiện để Vietnam Airlines phát triển thị trường và mạng đường bay. Tuy nhiên, chúng tôi lại phải cạnh tranh nhiều hãng hàng không về năng lực, chất lượng sản phẩm dịch vụ, và giá cả.
Hiện nay, Vietnam Airlines có 38 máy bay gồm Bôing B777, Airbus A320, A321, A330-300, ATR72, Forkker với 38 đường bay quốc tế trực tiếp đến 27 điểm trên thế giới, mặc dù sản phẩm dịch vụ Vietnam Airlines được khách hàng chấp nhận, thị phần bay quốc tế chiếm đến 43%, nhưng chúng tôi gặp phải những thách thức từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội nhập.
Vietnam Airlines sẽ cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ bằng chất lượng, hiệu quả. Tổng công ty tiếp tục đầu tư đội bay để đến năm 2015 có 86 máy bay, đồng thời phát triển mạng đường bay quốc tế và trong nước, năm 2007 mở đường bay thẳng tới Mỹ. Nghiên cứu để tham gia liên minh hàng không và hợp tác song phương với các hãng khác.
Nguyễn Sĩ Hưng
Chủ tịch HÐQT
Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Về nguồn nhân lực chất lượng cao
Tổng công ty Thiết bị điện Việt Nam vừa được quyết định hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-công ty con. Gia nhập WTO, tổng công ty có thêm điều kiện, cơ hội để lựa chọn thiết bị, vật tư nhập khẩu phục vụ sản xuất, được tiếp nhận thông tin nhiều hơn, đầy đủ hơn, chất lượng hơn, phục vụ tốt cho việc dự báo để hoạch định chính sách cho tương lai gần và chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
Sản phẩm xuất khẩu của tổng công ty không thuộc diện áp dụng hạn ngạch, mà bị chi phối bởi hàng rào thuế quan, nước ta gia nhập WTO, những sản phẩm này có điều kiện để tăng cường xuất khẩu, mở rộng và thâm nhập thị trường ngoài nước, vì những thị trường thành viên WTO phải thực hiện việc cắt, giảm thuế nhập khẩu đối với sản phẩm của chúng ta. Nhận thức việc tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, những năm qua, tổng công ty đã quan tâm đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, nhưng hiện nay công nghệ của doanh nghiệp vẫn ở mức trung bình so với khu vực, cho nên sức cạnh tranh hạn chế.
Thương hiệu của sản phẩm, của doanh nghiệp chưa được quảng bá rộng rãi tại thị trường trong nước và ngoài nước đã hạn chế khả năng tiêu thụ. Trình độ, năng lực một bộ phận giữ vị trí quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công nhân chưa đáp ứng yêu cầu công việc, trong điều kiện gia nhập WTO. Ðây là một khó khăn lớn, thách thức lớn đối với tổng công ty. Có tiền có thể mua được công nghệ, nhưng có tiền không thể có ngay được nguồn nhân lực tốt, trong bối cảnh công tác đào tạo của ta còn nhiều bất cập.
Nguyễn Văn Cường
Tổng công ty
Thiết bị điện Việt Nam
Hoạt động theo nguyên tắc thị trường và minh bạch
Gia nhập WTO, buộc các ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc thị trường và minh bạch hơn. Từ đó, dẫn đến quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, nâng cao tính cạnh tranh, khuyến khích tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, tài chính lành mạnh, kinh doanh hiệu quả. Sự tham gia tích cực hơn của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam một mặt sẽ tạo ra cơ hội giúp các ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, điều hành, mặt khác, sẽ thúc đẩy các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chuyên môn hóa sâu hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và phát triển các dịch vụ ngân hàng.
Hiện nay, quy mô vốn của chúng ta còn nhỏ, năng lực tài chính yếu, chất lượng tài sản thấp. Quy mô vốn của một NHTM còn quá nhỏ bé. Năm ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm thị phần tín dụng đến 67% nhưng tổng vốn tự có cũng chỉ khoảng hơn một tỷ USD, chưa đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu (8%). Ðiều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tăng trưởng quy mô các nghiệp vụ ngân hàng cũng như khả năng đầu tư chiều sâu về cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ ngân hàng.
Các NHTM Việt Nam cung cấp chủ yếu vẫn là các dịch vụ truyền thống (cho vay, huy động vốn). Hầu hết các ngân hàng chưa thiết lập hệ thống quản lý rủi ro hữu hiệu, hệ thống kiểm tra kiểm toán chưa có hiệu quả, chưa có hệ thống thông tin quản lý tập trung, hệ thống kế toán và quản lý tài chính phù hợp thông lệ quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực thấp, công nghệ thông tin còn kém...
PHẠM HUY HÙNG
Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam
Tiết kiệm trong sản xuất
Thời điểm nước ta gia nhập WTO, cũng là lúc ngành công nghiệp xi-măng phát triển khá mạnh, từ 13,9 triệu tấn năm 2000, đến nay sản lượng đã tăng lên 28,5 triệu tấn. Toàn ngành xi-măng phấn đấu đến năm 2009 có thêm 24 triệu tấn xi-măng, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Tuy nhiên, ngành xi-măng đang gặp nhiều khó khăn về thu xếp vốn cho đầu tư các dự án vì phần lớn nguồn vốn này đều phải vay từ các ngân hàng thương mại với lãi suất cao, trong khi tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng Việt Nam luôn thay đổi theo chiều hướng tăng. Bên cạnh đó, nhiều yếu tố đầu vào của ngành xi-măng như xăng, dầu, thạch cao, vật tư, phụ tùng thay thế,... cũng tăng mạnh làm cho giá thành xi-măng tăng, nhất là đối với các dự án đầu tư mới.
Trong khi đó giá bán xi-măng trong nước duy trì ổn định trong gần 10 năm qua, nếu tính theo đồng ngoại tệ USD thì giá bán xi-măng hiện nay đã giảm tới 30%, không còn phù hợp tình hình thị trường và mặt bằng giá hiện nay. So sánh với giá bán lẻ xi-măng của các nước ASEAN và một số nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,... thì giá bán lẻ xi-măng của Việt Nam là thấp nhất.
Ðể ngành xi-măng có tích lũy hợp lý và phát triển, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, bên cạnh việc các đơn vị sản xuất xi-măng tiếp tục tìm mọi biện pháp tiết kiệm chi phí trong sản xuất, lưu thông nhằm giảm giá thành sản phẩm, thì việc xây dựng, điều chỉnh giá bán xi-măng là cần thiết.
Lộ trình giá xi-măng không thể thực hiện ngay một lúc mà phải có thời gian, tùy thuộc vào cung cầu, quá trình thực hiện AFTA và lộ trình gia nhập WTO của nước ta, tùy thuộc vào tiến trình phát triển kinh tế của đất nước và khả năng cạnh tranh của ngành xi-măng Việt Nam.
Vũ Văn Hiệp
Phó Tổng giám đốc
Tổng công ty xi-măng Việt Nam
Năm công việc cần làm của ngành nhựa
| |
Ðối với Công ty Nhựa Việt Nam (VINAPLAST) chúng tôi, việc hội nhập không có gì là "ngỡ ngàng", bởi sự chuẩn bị đã có từ hai, ba năm trước đó và được tập sự bởi hội nhập AFTA. Nhưng khi ngày 7-11 Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng làm chúng tôi xúc động, tự hào.
Chúng tôi đang rà soát và tập trung thực hiện năm nội dung lớn. Ðó là, đổi mới công tác lãnh đạo, tái cấu trúc công ty và 13 đơn vị thành viên, để bảo đảm nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, đưa các hoạt động quản lý hữu hiệu và ngày càng chuyên nghiệp. Cùng với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao khi gia nhập WTO.
Chúng tôi đang đẩy mạnh quảng bá thương hiệu VINAPLAST và thương hiệu của các đơn vị thành viên bằng nhiều hình thức, để các đối tác và người tiêu dùng ở trong nước và ngoài nước từ biết, đến tin, hợp tác làm ăn và sử dụng. Tập trung xuất khẩu hàng nhựa vào thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Campuchia, Lào... tích cực xúc tiến thương mại để có thêm thị trường mới tập trung ở khu vực châu Âu, Bắc Mỹ, Australia...
Bên cạnh đó, công ty tích cực và chủ động thực hiện các dự án được Nhà nước giao như: Xây dựng nhà máy chế tạo thiết bị và khuôn mẫu ngành nhựa, sản xuất nguyên liệu nhựa; màng BOPP; Nhà máy xử lý phế liệu nhựa... và nhất là trước làn sóng đầu tư tất yếu sẽ xảy ra công ty sẽ tổ chức các doanh nghiệp sản xuất hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, để hàng nhựa có sức cạnh tranh cao trên thị trường.
Nguyễn Văn Hùng
Phó Tổng giám đốc
Công ty Nhựa Việt Nam
Tạo sức mạnh trong cạnh tranh
| |
Việt Nam gia nhập WTO, dịch vụ viễn thông được coi là một trong những lĩnh vực sẽ có sự cạnh tranh thị trường quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài. Hiện tại, có khoảng 30 đối tác nước ngoài hợp tác VNPT trong các lĩnh vực như cung cấp thiết bị, giải pháp...
VNPT đã chuẩn bị cho tiến trình hội nhập từ năm 2000 đến nay bằng việc xây dựng hạ tầng cơ sở vững chắc, đa dạng các dịch vụ từ bưu chính - viễn thông đến công nghệ thông tin, di động và internet. Ðiểm khác biệt của VNPT so với các doanh nghiệp khác là đầu tư vào nhiều lĩnh vực chứ không tập trung chủ yếu vào các dịch vụ có lãi cao. Việc tái cơ cấu lại VNPT theo mô hình tập đoàn cũng là giải pháp quan trọng giúp VNPT nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường viễn thông.
Bên cạnh đó, VNPT còn tập trung đầu tư xây dựng thương hiệu nhằm khẳng định vị trí của mình trên thị trường cũng như trong lòng khách hàng. Thương hiệu của VNPT đã được cấp giấy chứng nhận tại Hoa Kỳ và hiện VNPT đang đẩy mạnh quảng bá hình ảnh thương hiệu trên phạm vi toàn quốc, góp phần củng cố thương hiệu VNPT trong nước cũng như khuyếch trương thương hiệu ra nước ngoài.
Mấy năm gần đây, thị trường di động và internet của nước ta phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh giảm cước, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng giữa các doanh nghiệp sẽ dần bão hòa. Duy chỉ còn chất lượng dịch vụ, chính sách chăm sóc khách hàng và chế độ hậu mãi là tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và quyết định khả năng thu hút người tiêu dùng. Vì vậy VNPT sẽ tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, đồng thời xây dựng phương thức chăm sóc khách hàng.
NGUYỄN BÁ THƯỚC
Phó Tổng giám đốc
Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam