Bệnh do vi-rút E-bô-la nguy hiểm, nhưng vẫn có thể kiểm soát

WHO đánh giá, dịch bệnh do vi-rút E-bô-la ở Tây Phi trong năm 2014 là một sự kiện bất thường và coi đây là vụ dịch lớn nhất của căn bệnh này trong lịch sử. Tổ chức này đã công bố tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng gây quan ngại quốc tế. Ðồng thời nhận định, nguy cơ lây truyền vi-rút E-bô-la qua đường hàng không là thấp, vì nó chỉ lây qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của người bệnh. Do vậy, mặc dù vi-rút E-bô-la nguy hiểm, nhưng vẫn có thể kiểm soát được.

Tập huấn phòng chống dịch bệnh do vi-rút E-bô-la tại Viện Pa-xtơ (TP Hồ Chí Minh) do Bộ Y tế tổ chức. Ảnh: THIÊN CHƯƠNG
Tập huấn phòng chống dịch bệnh do vi-rút E-bô-la tại Viện Pa-xtơ (TP Hồ Chí Minh) do Bộ Y tế tổ chức. Ảnh: THIÊN CHƯƠNG

Xuất huyết E-bô-la hay gần đây được gọi là bệnh do vi-rút E-bô-la lần đầu bùng phát tại một ngôi làng ven sông E-bô-la ở nước Cộng hòa Công- gô vào năm 1976. Các năm tiếp theo, bệnh tiếp tục xuất hiện tại một số quốc gia, chủ yếu ở châu Phi nhưng chưa từng vượt qua con số 500 người mắc và 300 người chết xảy ra ở một, hai nước hằng năm. Nhưng đến năm 2014, sự bùng phát trở lại và lây lan nhanh chóng của bệnh do vi-rút E-bô-la tại Tây Phi với ca bệnh đầu tiên vào tháng 12-2013 ở Ghi-nê, sau đó lan sang Xi-ê-ra Lê-ôn, Li-bê-ri-a và Ni-giê-ri-a. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến ngày 13-8, bệnh do vi-rút E-bô-la khiến hơn 1.145 người thiệt mạng trong tổng số 2.127 ca mắc bệnh tại bốn quốc gia nêu trên. Ngoài ra, đã ghi nhận hai người Mỹ và một người Tây Ban Nha bị mắc bệnh do có tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với người bệnh tại các vùng có dịch ở Tây Phi.

Bệnh do vi-rút E-bô-la là bệnh có tỷ lệ tử vong cao, có thể lên tới 90%. Thời gian ủ bệnh từ hai đến 21 ngày, trung bình là năm đến bảy ngày. Bệnh có biểu hiện của nhiễm vi-rút cấp tính: Sốt đột ngột, đau, yếu cơ, đau đầu, đau họng, nôn, ỉa chảy, nổi ban, suy giảm chức năng gan, thận, xuất huyết, suy đa phủ tạng. Vi-rút E-bô-la phải được tiến hành tại phòng xét nghiệm bảo đảm an toàn sinh học cao nhất (cấp bốn). Tuy nhiên, nếu bệnh phẩm được bất hoạt vi-rút thì có thể tiến hành xét nghiệm chẩn đoán sinh học phân tử ở phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp ba hay cấp hai. Việc thu thập, bảo quản, đóng gói và vận chuyển bệnh phẩm nghi nhiễm vi-rút E-bô-la phải thực hiện nghiêm ngặt theo đúng quy định an toàn sinh học. Hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, hỗ trợ và điều trị tích cực. Nguy cơ nhiễm vi-rút E-bô-la cao chỉ khi có tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với máu, dịch tiết của người bệnh hoặc động vật nhiễm bệnh. WHO không khuyến cáo cấm đi lại, giao thương giữa các quốc gia, mà chỉ khuyến cáo hạn chế đi lại của những ca mắc bệnh và những người tiếp xúc. Tuy nhiên, các quốc gia phải chuẩn bị năng lực phát hiện, điều tra và điều trị bệnh do vi-rút E-bô-la, nhất là quản lý những người từ vùng dịch, có biểu hiện sốt không rõ nguyên nhân. Nhân viên chăm sóc y tế cho người trở về từ các vùng có dịch, nếu thấy xuất hiện những triệu chứng tương tự cần áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng, chống nhiễm khuẩn, cho dù chưa biết kết quả xét nghiệm. Cần phải tăng cường truyền thông những thông tin chính xác tới cộng đồng những nguy cơ và các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm vi-rút E-bô-la. Khi cần tiếp xúc người bệnh phải sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân. Thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà-phòng. Thường xuyên lau chùi nền nhà, đồ dùng, vật dụng... bằng hóa chất khử trùng có clo với nồng độ 0,5% clo hoạt tính hoặc hóa chất sát khuẩn thông thường. Nếu thấy có biểu hiện của bệnh do vi-rút E-bô-la, phải đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám phát hiện bệnh sớm, cách ly và điều trị kịp thời.

Hiện nay, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp bệnh do vi-rút E-bô-la, dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã chủ động, phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành có liên quan triển khai tốt việc giám sát hành khách nhập cảnh tại các cửa khẩu và tại cộng đồng nhằm phát hiện sớm những trường hợp nghi mắc bệnh do vi-rút E-bô-la; triển khai việc tập huấn về chuyên môn kỹ thuật, tổ chức tốt việc phân tuyến và thu dung điều trị nhằm hạn chế đến mức thấp nhất số trường hợp tử vong, không để lây nhiễm dịch bệnh trong các cơ sở y tế và lan rộng dịch bệnh ra cộng đồng; bảo đảm cấp đủ phương tiện, vật tư, trang thiết bị, kinh phí; lập kế hoạch sẵn sàng ứng phó các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra. Kiểm soát chặt chẽ công dân nước ngoài, Việt Nam nhập cảnh, trở về từ vùng có dịch.

Mặc dù bệnh do vi-rút E-bô-la nguy hiểm và có tỷ lệ tử vong cao nhưng chúng ta vẫn có thể kiểm soát được bằng các biện pháp y tế công cộng kinh điển: phát hiện sớm, cách ly người bệnh, theo dõi người tiếp xúc, truyền thông cho người dân về các biện pháp dự phòng, tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp phòng nhiễm trùng trong các cơ sở y tế.

GS, TS NGUYỄN TRẦN HIỂN

Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư

Dịch bệnh do vi-rút E-bô-la bùng phát năm 2014 là chủng Zaire ebolavirus, chủng vi-rút nguy hiểm nhất trong năm chủng vi-rút E-bô-la đang lưu hành hiện nay trên thế giới; dịch bệnh xảy ra ở những nước nghèo, có cơ sở hạ tầng y tế kém, thiếu trang thiết bị và nhân viên y tế ít có kinh nghiệm trong giám sát phát hiện bệnh sớm, điều trị và dự phòng bệnh; có dân số đông, di biến động nhiều qua biên giới; phong tục, tập quán tại các nước đang xảy ra dịch làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh như phong tục mai táng người chết tại nhà, chăm sóc người thân khi mắc bệnh tại nhà; người dân từ chối, không thích sử dụng các biện pháp y tế hiện đại mà thường đến các thầy lang; và do hiện nay chưa có vắc-xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu.

Có thể bạn quan tâm