Vì sao phải nhập dừa?
Bến Tre có hơn bảy triệu cây dừa, sản lượng bình quân hằng năm khoảng 230 triệu quả. Ngoài nguồn nguyên liệu tại địa phương, mỗi năm Bến Tre còn tiêu thụ khoảng 100 triệu quả dừa từ các tỉnh lân cận Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, có tỉnh xa hơn như Ðồng Tháp, An Giang. Thông qua thương lái, nông dân cũng mang dừa về bán cho các doanh nghiệp của tỉnh Bến Tre.
Tỉnh này có bốn nhà máy chế biến cơm dừa nạo sấy chất lượng cao, công suất lớn, máy móc thiết bị hiện đại, bao gồm một nhà máy 100% vốn nước ngoài, ba xí nghiệp liên doanh. Riêng ba xí nghiệp liên doanh, tổng vốn đầu tư đã lên đến sáu triệu USD. Ngoài ra, trong tỉnh còn hơn chục cơ sở, xí nghiệp nhỏ tham gia chế biến cơm dừa dạng thủ công, truyền thống. Với năng lực chế biến như vậy, nếu đủ nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp chạy hết công suất, mỗi năm Bến Tre có thể chế biến xuất khẩu khoảng 30 nghìn tấn cơm dừa nạo sấy các loại. Tuy nhiên, từ tháng 10-2003 đến nay, do không đủ nguyên liệu, các xí nghiệp chế biến cơm dừa trong tỉnh đang phải sản xuất cầm chừng. Tại sao vậy?
Trước hết, do năm 2003, các doanh nghiệp trong tỉnh đã xuất khẩu 60-70 triệu quả dừa. Nhìn lại những năm 90 của thế kỷ trước, khi năng lực chế biến các sản phẩm từ dừa trong tỉnh chưa cao, để tiêu thụ cho nông dân, mỗi năm các doanh nghiệp trong tỉnh đã mua, xuất khẩu hàng trăm triệu quả dừa. Dù giá trị của việc bán nguyên liệu thô rất thấp, nhưng với hoàn cảnh lúc bấy giờ là hợp lý. Nhưng đến năm 2003, khi năng lực chế biến đã tăng đáng kể; sản lượng dừa lại tụt giảm do những năm trước giá thấp, nông dân chặt dừa; bọ dừa phá hại làm giảm năng suất... thì việc xuất khẩu dừa quả như hiện nay là điều đáng nói. Dù có viện dẫn lý do nào đi nữa thì việc xuất khẩu dừa quả - nguyên liệu thô - vẫn là điều không nên làm.
Xuất, nhập dừa quả, bài toán khó
Xét hiệu quả kinh tế, xuất khẩu dừa quả là điều cần tránh trong thời điểm hiện nay. Theo tính toán của các nhà chế biến, kinh doanh, dừa xuất khẩu thời điểm hiện tại có giá khá cao, đạt tới 1.870 đồng/quả. Nhưng theo tính toán của chính các nhà kinh doanh, một quả dừa qua chế biến giá trị xuất khẩu tăng lên đến 6.000 đồng, cao gấp ba lần. Từ quả dừa nguyên liệu, hàng loạt sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao đang được chế biến như chỉ xơ dừa, thảm, lưới xơ dừa, chỉ xơ xoắn. Than gáo dừa có ba loại là than hoạt tính, than thiêu kết, than sinh hoạt. Rồi cơm dừa (riêng cơm dừa nạo sấy do các xí nghiệp liên doanh của Công ty Trúc Giang chế biến đã có hơn chục chủng loại, giá xuất hiện tại là 750 USD/tấn, lúc cao điểm lên đến 1.200 USD/tấn). Ngoài ra còn phải kể đến các sản phẩm khác là thạch dừa, kẹo dừa, dầu dừa cũng đang là các mặt hàng có giá trị kinh tế cao, làm ra bao nhiêu tiêu thụ hết bấy nhiêu... Cùng với giá trị tăng thêm đó là tạo ra việc làm cho hàng chục nghìn lao động...
Tham gia xuất khẩu dừa quả hiện nay, Bến Tre đang có bốn doanh nghiệp. Ðó là Công ty sản xuất, kinh doanh xuất, nhập khẩu Trúc Giang (TREXIMCO); Công ty xuất, nhập khẩu Bến Tre; Công ty thương mại Trúc Giang và doanh nghiệp tư nhân Minh Tâm. Ngoài ra, tỉnh lân cận là Trà Vinh cũng đang có hai công ty lớn tham gia thị trường này. Trong bốn doanh nghiệp kể trên của Bến Tre, TREXIMCO là đơn vị xuất khẩu với số lượng lớn nhất, đồng thời cũng là đơn vị đầu tiên trong tỉnh nhập dừa quả về làm nguyên liệu sản xuất, chế biến.
Nói về nghịch lý này, Giám đốc công ty Hà Vĩnh Hòa giải thích: Cuối năm 2003, do tình hình nguyên liệu không đủ, công ty đã phải nhập thử 25 nghìn quả dừa từ Sri Lanka. Tuy nhiên, chỉ xét hiệu quả kinh tế đã thấy không ổn do ba lẽ: giá thành dừa về đến nhà máy không thấp; tỷ lệ hư hỏng trên đường vận chuyển cao; chất lượng nguyên liệu thua xa loại hiện có trong nước. Do vậy nhập dừa chỉ là giải pháp tình thế, mang tính thử nghiệm. Về lâu dài vẫn phải trông chờ nguồn nguyên liệu từ Bến Tre và các tỉnh lân cận. Còn việc xuất dừa quả, theo giám đốc Hòa, trước hết là do thị trường thế giới có nhu cầu. Thị trường này có khả năng tiêu thụ số lượng lớn, lại luôn luôn đặt giá cao hơn so với giá mà các doanh nghiệp trong tỉnh vẫn mua của nông dân. Mặc dù lợi nhuận thu được từ xuất khẩu dừa quả không cao (chỉ khoảng 200 đồng/quả), nhưng các doanh nghiệp phần thì muốn giữ thị trường, phần thì năng lực chế biến hạn chế cho nên vẫn xuất khẩu dừa.
Sức ép đó làm cho cả các nhà chế biến lớn cũng phải chạy theo, dẫn đến sự vô lý ở chỗ muốn giữ dừa lại chế biến, nhưng rốt cuộc vẫn phải bán nguyên liệu thô đi. Xuất khẩu dừa quả hiện đang có thuế suất bằng không, làm cho việc xuất dừa thô càng dễ dàng, với số lượng lớn dẫn đến các xí nghiệp chế biến trong nước thiếu nguyên liệu. Mặt khác, vì lợi ích trước mắt, cục bộ, một vài doanh nghiệp đã không tính đến lợi ích lâu dài mà ngành chế biến các sản phẩm từ dừa mang lại cho nền kinh tế - xã hội. Việc nâng cao năng lực chế biến, để tăng giá trị từ chế biến dừa vẫn là hướng đi lâu dài của công nghiệp Bến Tre. Mặt khác, để giúp nông dân cải tạo giống dừa, thay đổi tập quán canh tác, áp dụng các phương pháp trồng, chăm sóc tiên tiến để nâng cao năng suất... cây dừa còn rất cần được các cơ quan chức năng công nhận là loại cây công nghiệp dài ngày, từ đó có những chính sách thích hợp với loại cây này.
Sau những bước thăng trầm, ngành công nghiệp chế biến dừa đã khôi phục và đang phát triển mạnh ở Bến Tre. Sau những đợt chặt dừa do mất giá, nay với giá bán đến 1.650 đồng/quả, nông dân đang quay lại trồng dừa. Chỉ trong hai năm 2002 - 2003, diện tích dừa ở Bến Tre tăng hai nghìn ha. Thêm một tín hiệu vui, đến tháng 4 này, Bến Tre đã cơ bản khống chế được dịch bọ dừa. Với đàn ong ký sinh đang được thả ở nhiều huyện, cuối năm 2004, bọ dừa sẽ bị dập tắt hoàn toàn trên quy mô toàn tỉnh, tạo điều kiện phát triển vùng nguyên liệu ổn định cho các nhà máy.