Áp lực lên tỷ giá USD/VND gia tăng nhưng không nhiều
Tại Báo cáo đánh giá tác động việc FED tăng lãi suất đối với kinh tế-tài chính toàn cầu và Việt Nam cùng những khuyến nghị, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV nhấn mạnh: Quyết định ngày 16/9/2026 của FED tăng lãi suất điều hành thêm 0,25 điểm % đánh dấu sự thay đổi đáng chú ý trong định hướng chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ và có thể làm thay đổi kỳ vọng về mặt bằng lãi suất, tỷ giá, dòng vốn và chi phí vốn toàn cầu trong thời gian tới, trong đó có nền kinh tế mở như Việt Nam.
Về tác động đối với kinh tế-tài chính, việc FED điều chỉnh lãi suất có thể khiến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng đáng kể. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam.
Trong ngắn hạn, sức cầu vẫn được duy trì nhưng lãi suất cao kéo dài có thể làm tiêu dùng và đầu tư tại thị trường này chậm lại, từ đó ảnh hưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Đồng thời, lãi suất tại một số thị trường khác (như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…) tăng lên cũng sẽ làm giảm tổng cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam, khiến xuất khẩu khó duy trì đà tăng mạnh 22,5% như thời gian qua.
Dư địa giảm lãi suất trong nước trở nên khó khăn hơn khi FED tăng lãi suất. Theo phân tích của Nhóm tác giả, Ngân hàng Nhà nước hiện giữ lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm trong khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 đến 12 tháng tại nhiều ngân hàng ở mức 7 đến 9%/năm. Mặt bằng lãi suất chịu áp lực tăng từ quý IV/2025 đến hết quý I/2026, đang ổn định từ đầu quý II/2026 đến nay, lãi suất cho vay giảm nhẹ ở một số gói tín dụng, một số đối tượng khách hàng và lĩnh vực ưu tiên.
Tuy nhiên, do lãi suất USD và một số ngoại tệ khác tăng, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay trong ngắn hạn trở nên khó khăn hơn, nhất là nếu FED tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm 2026. Vì vậy, việc đa dạng hóa nguồn vốn và phân bổ vốn hiệu quả lại càng quan trọng đối với cả bên vay và bên cho vay.
Báo cáo cũng nhận định, việc FED tăng lãi suất sẽ gây áp lực lên tỷ giá USD/VND gia tăng nhưng không nhiều. Diễn biến tỷ giá từ đầu năm đến nay tương đối thuận lợi chủ yếu là do mặt bằng lãi suất các kỳ hạn của VND đều cao hơn lãi suất USD, làm tăng sức hấp dẫn của việc nắm giữ VND; sau nhiều năm trả nợ nước ngoài ròng, đến năm 2026, Việt Nam đã quay trở lại vay ròng ngoại tệ trong năm nay, giúp bù đắp nguồn cung ngoại tệ trong nước; chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới giảm, hoạt động nhập lậu vàng giảm, làm giảm nhu cầu ngoại tệ.
Với đợt tăng lãi suất này (phù hợp với kỳ vọng thị trường), áp lực lên tỷ giá USD/VND là không nhiều do chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn ở mức dương (bình quân khoảng 0,5 điểm %).
Tuy nhiên, nếu FED có thêm một đợt tăng lãi suất vào tháng 12/2026 sẽ làm chênh lệch lãi suất VND-USD giảm, đồng USD tăng giá trên thị trường quốc tế, tạo áp lực nhất định lên tỷ giá USD/VND. Diễn biến tỷ giá USD/VND thời gian tới phụ thuộc chủ yếu vào lộ trình tăng lãi suất của FED, cán cân thương mại và dòng vốn quốc tế.
Tác động của đợt điều chỉnh lãi suất lần này cũng khiến áp lực lạm phát và chi phí trả nợ ngoại tệ của Việt Nam tăng nhẹ. FED tăng lãi suất có thể tác động đến lạm phát Việt Nam chủ yếu qua hai kênh: USD mạnh lên làm tăng chi phí nhập khẩu và giá năng lượng thế giới neo cao, làm tăng chi phí nhiên liệu, vận tải và sản xuất, qua đó tạo áp lực lên giá thành hàng hóa và dịch vụ.
Rủi ro này đáng lưu ý khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 đã tăng 0,47% so tháng trước và tăng 4,89% so cùng kỳ; CPI bình quân tăng 4,45% so cùng kỳ, gần sát ngưỡng mục tiêu 4,5% và lạm phát cơ bản tăng 4,24%.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có dư nợ bằng USD và một số ngoại tệ mạnh khác nhưng nguồn thu chủ yếu bằng VND có thể chịu tác động kép từ lãi suất USD cao hơn và VND mất giá nhẹ, làm gia tăng chi phí lãi vay và giá trị nghĩa vụ nợ khi quy đổi sang VND. Vì vậy, Nhóm tác giả cho rằng việc cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá... vẫn luôn là bài toán ưu tiên của Việt Nam.
Tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô
Về tác động lên dòng vốn đầu tư, Nhóm tác giả nhận định đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, lợi suất tại Hoa Kỳ và USD tăng giá làm tăng mức hấp dẫn sinh lời yêu cầu đối với tài sản tại Việt Nam, trong bối cảnh khối ngoại đã bán ròng 92.000 tỷ đồng từ đầu năm 2026 đến nay. Áp lực này có thể được bù đắp một phần bởi dòng vốn vào Việt Nam khi FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026. Rủi ro cần theo dõi là dư nợ ký quỹ hiện ở mức khoảng 450.000 tỷ đồng, làm tăng độ nhạy của thị trường khi biến động mạnh.
Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI), tác động thường chậm hơn vì quyết định đầu tư phụ thuộc nhiều vào triển vọng dài hạn, vị trí trong chuỗi cung ứng, chi phí sản xuất và môi trường đầu tư. Tuy nhiên, chi phí vốn quốc tế cao kéo dài vẫn có thể làm chậm một số quyết định đầu tư mới và ảnh hưởng tiến độ giải ngân.
Từ những vấn đề đặt ra, Nhóm tác giả khuyến nghị Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; trong đó tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt với các kịch bản khi có sự thay đổi chính sách tiền tệ của FED và các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới; phối-kết hợp tốt với chính sách tài khóa, bảo đảm ổn định mặt bằng lãi suất và tỷ giá góp phần kiềm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng; theo sát, phân tích và dự báo diễn biến thị trường tài chính-tiền tệ quốc tế, cần xây dựng kịch bản nếu FED tăng nhanh lãi suất dẫn tới những biến động trên thị trường tài chính toàn cầu và Việt Nam, có kịch bản ứng phó phù hợp.
Bên cạnh đó, Nhóm tác giả cũng đưa ra khuyến nghị cần xây dựng lộ trình và phối hợp thực thi điều tiết giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý một cách phù hợp, nhịp nhàng, tránh giật cục, không phù hợp về thời điểm; tăng cường truyền thông cùng các biện pháp bình ổn giá; theo dõi, đánh giá nghĩa vụ trả nợ nước ngoài khi FED tăng lãi suất nhằm có những cảnh báo kịp thời đối với doanh nghiệp và chuẩn bị phương án đối với trả nợ của Chính phủ; tiếp tục điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối chủ động, linh hoạt nhằm ổn định tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát và hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp vay nợ nước ngoài nhiều; theo dõi chặt diễn biến tỷ giá, dòng vốn đầu tư gián tiếp, dư nợ cho vay ký quỹ và rủi ro bán giải chấp trên thị trường chứng khoán; tận dụng cơ hội nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút dòng vốn trung và dài hạn, giảm mức độ phụ thuộc vào dòng vốn ngắn hạn, kiểm soát rủi ro nhằm tăng giám sát rủi ro tài chính và dòng vốn.