toàn cầu
Công thức xây tổ cho “chim phượng hoàng”
phát huy tinh thần làm chủ công nghệ chiến lược
Ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, lần đầu tiên khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là "nguồn lực chiến lược quan trọng", góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Đây cũng là một trong những lời giải cho nhiệm vụ phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mà Nghị quyết số 57-NQ/TW vốn được ví như "Khoán 10" trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đã đặt ra trước đó.
Theo đó, cần ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về nước làm việc, sinh sống. Đồng thời, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, "tổng công trình sư" có khả năng tổ chức, điều hành các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ những câu chuyện cụ thể, những con số và góc nhìn của các chuyên gia, vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tiếp nhận, đặt hàng và trọng dụng nhân tài cần được tháo gỡ.
Bởi để hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045, nguồn lực của đất nước không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam. Ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống, sáng tạo và thành công, ở đó có thể là một phần của sức mạnh Việt Nam.
KẾT NỐI
TRÍ TUỆ VIỆT
TOÀN CẦU
Tạo nguồn lực phát triển đất nước
Sau nhiều năm nghiên cứu Vật lý thống kê và Cơ học lượng tử, với những công trình được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín, Tiến sĩ Võ Văn Tuấn trở về Việt Nam đảm nhiệm vai trò Giám đốc Quantum Lab thuộc Viện Nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo lượng tử và an ninh mạng (QACI) của Tập đoàn FPT. Sự trở về ấy diễn ra trong một thời điểm đặc biệt: Việt Nam đang mở rộng những không gian mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và nhiều công nghệ chiến lược đang được đặt vào những ưu tiên phát triển mới.
Nhưng với một nhà khoa học, về nước mới chỉ là bước đầu. Bài toán lớn hơn là Việt Nam có tạo được những “bãi đáp” đủ sức đón dòng chất xám đang chảy ngược về đất nước hay không.
Kiến tạo những bài toán lớn mang tầm quốc gia để làm tổ cho “chim phượng hoàng”
Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Quốc hội cho rằng “bãi đáp” hấp dẫn không phải là tấm thảm đỏ ở sân bay. Đó là một đường băng phải có đèn, có hoa tiêu và có điểm đến rõ ràng.
Theo ông, một bãi đáp đúng nghĩa trước hết phải có bài toán thật. Việt Nam đã có 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm và 20 bài toán lớn giao cho 10 bộ, cơ quan chủ trì. Đây là tài sản quý, nhưng phải công khai hóa và quốc tế hóa: mỗi bài toán cần có hồ sơ kỹ thuật, ngân sách, tiêu chí nghiệm thu và cho phép chuyên gia người Việt ở nước ngoài ứng tuyển vị trí Tổng công trình sư.
“Một người từng dẫn dắt dự án vi mạch ở nước ngoài sẽ không rung động vì lời mời chung chung, nhưng sẽ rung động trước một đề bài cụ thể: thiết kế bộ xử lý cho hạ tầng viễn thông thế hệ mới của Việt Nam, hay xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt có chủ quyền”, ông nói.
Tiến sĩ Trần Văn Khải.
Tiến sĩ Trần Văn Khải.
Thứ hai là tiền thật. Ngân sách cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã đạt 3% tổng chi ngân sách nhà nước, mức cao nhất trong 10 năm gần đây. Hà Nội bố trí 9.090 tỷ đồng năm 2026, tương đương 4% chi ngân sách; Thành phố Hồ Chí Minh lập Quỹ đầu tư mạo hiểm vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng, hướng tới 5.000 tỷ đồng vào năm 2030. Nhưng khoảng cách giữa số được bố trí và số thực giải ngân vẫn là vấn đề. Với nhà khoa học, một đồng giải ngân đúng hạn có giá trị hơn mười đồng nằm trên giấy, bởi nghiên cứu công nghệ không thể vận hành bằng những cam kết chưa đến được phòng thí nghiệm.
Thứ ba là hạ tầng thật. Không thể làm bán dẫn nếu không có phòng sạch; không thể làm trí tuệ nhân tạo nếu không có hạ tầng tính toán và dữ liệu.
Ông dẫn chứng, Đà Nẵng thu hút dự án phòng thí nghiệm kết hợp sản xuất công nghệ đóng gói tiên tiến vi mạch 1.800 tỷ đồng; NVIDIA lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển trí tuệ nhân tạo cùng Trung tâm Dữ liệu AI tại Việt Nam; Qualcomm mở trung tâm nghiên cứu và phát triển.
Theo Tiến sĩ Khải, nhiệm vụ tiếp theo là hình thành mạng lưới phòng thí nghiệm dùng chung, mở cửa cho doanh nghiệp thuê sử dụng. Khi đó, người trở về không phải bắt đầu lại từ đầu để tìm kiếm điều kiện nghiên cứu, mà có thể lập tức bước vào một hệ sinh thái đã có hạ tầng và đối tác.
Thứ tư là khách hàng thật. Nhà khoa học ứng dụng cần biết ai sẽ dùng kết quả của mình. Cơ chế Nhà nước là khách hàng đầu tiên, mua lô sản phẩm đầu tiên, cùng thị trường trên 100 triệu dân và nền công nghiệp công nghệ số đang xuất khẩu phần cứng, điện tử tới 84,31 tỷ USD chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, có thể tạo ra lực kéo rất mạnh. Một công nghệ nếu chỉ nằm trong phòng thí nghiệm thì chưa trở thành năng lực kinh tế; nó chỉ thực sự sống khi có người sử dụng, có doanh nghiệp sản xuất và có thị trường chấp nhận.
Và ngoài bốn thứ “thật”, Tiến sĩ Khải nhấn mạnh một điều nữa: tốc độ. Cạnh tranh công nghệ toàn cầu tính bằng quý, không tính bằng nhiệm kỳ.
“Tổng Bí thư đã yêu cầu với từng công nghệ chiến lược phải xác định rõ mục tiêu theo các mốc 1, 3, 5 và 10 năm về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành và khả năng xuất khẩu. Khi nhìn thấy một lộ trình rõ ràng như vậy, chuyên gia sẽ tin rằng thời gian mình bỏ ra không bị lãng phí”, Tiến sĩ Khải nhấn mạnh.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải cũng cho rằng các nhà khoa học giỏi thường bị hấp dẫn bởi những bài toán có ý nghĩa và khả năng tạo ra tác động lâu dài. Vì thế, thay vì chỉ kêu gọi chuyên gia về nước, Việt Nam cần đặt ra những “grand challenges” - những bài toán lớn của quốc gia, đủ sức tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, trường đại học và các đối tác quốc tế cùng tham gia.
Thay vì chỉ kêu gọi chuyên gia về nước, Việt Nam cần đặt ra những “grand challenges” - những bài toán lớn của quốc gia, đủ sức tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, trường đại học và các đối tác quốc tế cùng tham gia
Đó cũng là lý do Dương Minh Hải đề xuất Việt Nam cần chuyển từ các đề tài phân tán sang cách tiếp cận "grand challenges" - những bài toán lớn của quốc gia. Theo ông, nhà khoa học giỏi thường bị hấp dẫn bởi các vấn đề có ý nghĩa và khả năng tạo ra giá trị lâu dài. Những lĩnh vực như AI, bán dẫn, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, kinh tế tuần hoàn hay công nghệ biển đều cần được đặt thành các chương trình quy mô đủ lớn để tập hợp trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các chuyên gia Việt Nam trên toàn thế giới.
Từ góc nhìn này, sự trở về của Tiến sĩ lượng tử Võ Văn Tuấn vào đầu năm 2026 mang ý nghĩa vượt xa câu chuyện của một cá nhân. Sau nhiều năm nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý lượng tử, ông gia nhập FPT đúng thời điểm doanh nghiệp này thành lập QACI. Trước khi về đầu quân đảm nhiệm vai trò Giám đốc Quantum Lab thuộc QACI, Tập đoàn FPT vào tháng 3/2026, Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đã là tác giả của hàng loạt công trình nghiên cứu đỉnh cao về Vật lý thống kê và Cơ học lượng tử, được đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín thế giới như Physical Review Letters (IF: 9.0) hay Physical Review Research. Trước đó, ông tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ ngành Kỹ thuật Thông tin và Truyền thông tại Đại học Tokyo - ngôi trường danh giá số một Nhật Bản, sau đó tiếp tục công tác với vai trò Nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (Postdoctoral Researcher) tại Đại học Kyoto.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc một nhà khoa học Việt Nam trở về nước, mà ở chỗ đã xuất hiện một không gian nghiên cứu đủ sức chứa những tham vọng khoa học dài hạn.
Theo các thông tin được FPT công bố, QACI được định hướng nghiên cứu các lĩnh vực lượng tử, AI và an ninh mạng, đồng thời hướng đến mục tiêu đào tạo 100 tiến sĩ, phát triển 2.000 chuyên gia công nghệ và xây dựng mạng lưới hợp tác với nhiều trường đại học công nghệ hàng đầu. Quan trọng hơn, Viện nghiên cứu này được xác định sẽ tập trung vào các bài toán thực tiễn và công nghệ chiến lược của quốc gia. FPT cũng cho biết đang tích cực kết nối, trao đổi để chào đón thêm các chuyên gia lượng tử hàng đầu người Việt từ Mỹ, Hàn Quốc, Australia, Nhật Bản… về nước cống hiến. Đồng thời, QACI cũng đang mở rộng hợp tác với nhiều trường đại học, học viện công nghệ hàng đầu tại Việt Nam, hướng tới xây dựng một mạng lưới liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường. Thông qua đó, các bên cùng tham gia xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy năng lực nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và an toàn, an ninh mạng.
Câu chuyện ấy cho thấy một thực tế: người tài không chỉ tìm kiếm một vị trí công việc. Họ tìm kiếm những sứ mệnh đủ lớn để theo đuổi.
Chia sẻ về lý do quyết định rời trung tâm công nghệ lớn của thế giới để trở về, Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cho biết: Công nghệ lượng tử không còn là câu chuyện quá sớm đối với Việt Nam. Nếu chúng ta đợi công nghệ này định hình xong xuôi trên thế giới mới bắt tay vào làm, khoảng cách sẽ là không thể san lấp. Lượng tử là một ngành khoa học cực khó và mới với cả thế giới, vì vậy nguồn lực lớn nhất để Việt Nam không đi sau chính là chất xám của mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt ở nước ngoài. Cũng theo ông Tuấn, để dòng chảy chất xám này thực sự tạo ra giá trị, chúng ta cần những bệ phóng doanh nghiệp đủ tầm vóc và quyết tâm. Tôi chọn FPT vì tìm thấy ở đây một tầm nhìn chiến lược dài hạn, cùng một không gian nghiên cứu tự do chuẩn quốc tế tại QACI là nơi các nhà khoa học được trao trọn vẹn nguồn lực để tập trung vào chuyên môn.
Một nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại Singapore, Hoa Kỳ hay châu Âu có thể cân nhắc rất nhiều lựa chọn nghề nghiệp. Nhưng cơ hội tham gia xây dựng năng lực AI tiếng Việt có chủ quyền, phát triển công nghệ lượng tử, tạo ra vật liệu xanh từ chất thải công nghiệp hay góp phần hình thành một ngành công nghiệp bán dẫn nội địa là những cơ hội không dễ tìm thấy ở nơi khác. Đó mới là sức hút bền vững nhất.
Lễ ký kết giữa Trường đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (FCC1) và Viện Quantum AI & Cyber Security (QACI), Tập đoàn FPT.
Lễ ký kết giữa Trường đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (FCC1) và Viện Quantum AI & Cyber Security (QACI), Tập đoàn FPT.
Lễ ký kết MOU giữa Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (FCC1) và QACI.
Lễ ký kết MOU giữa Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (FCC1) và QACI.
Lễ ký kết MOU giữa Trường đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội (FCC1) và Viện QACI.
Lễ ký kết MOU giữa Trường đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội (FCC1) và Viện QACI.
Lễ ký kết MOU giữa Trường đại học FPT và Viện QACI.
Lễ ký kết MOU giữa Trường đại học FPT và Viện QACI.
Xây dựng một bản đồ năng lực kiều bào có chiều sâu
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà.
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng.
Ông Đỗ Văn Khắc, Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản (VADX Japan) Tổng Giám đốc FPT Japan Holdings, Tập đoàn FPT.
Ông Đỗ Văn Khắc, Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản (VADX Japan) Tổng Giám đốc FPT Japan Holdings, Tập đoàn FPT.
Trong nhiều năm, câu chuyện phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài thường được nhìn bằng những con số: hơn 6,5 triệu kiều bào tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng trăm nghìn người có trình độ đại học trở lên, hàng nghìn nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân đang làm việc tại các trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới. Nhưng theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, Chủ tịch Hội Tinh hoa Việt Nam (Parfums du Vietnam) và là thành viên Ban Chấp hành Hội Người Việt Nam tại Pháp, điều Việt Nam đang thiếu không hẳn là người tài, mà là một cơ chế đủ thông minh để đặt đúng người vào đúng bài toán, đúng thời điểm.
Nguồn lực trí tuệ người Việt Nam ở nước ngoài đã được kết nối với đất nước thông qua nhiều hình thức: các hội trí thức và doanh nhân, mạng lưới chuyên ngành, chương trình tư vấn chính sách, hợp tác giữa trường đại học, hoạt động chuyển giao công nghệ, đầu tư khởi nghiệp, giảng dạy và đào tạo từ xa. Nhiều chuyên gia đã chủ động đóng góp mà không đặt nặng lợi ích vật chất. Tuy nhiên, sự kết nối hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào quan hệ cá nhân và những người có khả năng tự tìm đường đến với nhau. Vì vậy, nguồn lực được huy động chưa liên tục, chưa đồng đều giữa các lĩnh vực và chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng. Do đó, theo Tiến sĩ Hà, có ít nhất bốn nguồn lực còn chưa được khai thác đúng mức.
Thứ nhất là đội ngũ chuyên gia rất giỏi nhưng không có điều kiện về Việt Nam dài hạn. Họ có thể dành vài giờ mỗi tuần để tư vấn trực tuyến, phản biện một đề án, hướng dẫn một nhóm nghiên cứu hoặc đồng đào tạo nghiên cứu sinh. Nếu chỉ coi “trở về” là điều kiện để đóng góp thì chúng ta sẽ bỏ qua một nguồn lực rất lớn.
Thứ hai là thế hệ trẻ gốc Việt được đào tạo hoàn toàn trong môi trường quốc tế. Nhiều em có thể chưa nói tiếng Việt thật thành thạo, nhưng có tư duy toàn cầu, hiểu công nghệ mới và nắm rõ văn hóa làm việc tại nước sở tại. Không nên đánh giá lòng gắn bó của thế hệ này chỉ qua khả năng sử dụng tiếng Việt. Điều quan trọng là tạo cho họ một con đường để khám phá căn tính, kết nối nghề nghiệp và đóng góp cho Việt Nam.
Thứ ba là nguồn lực quan hệ quốc tế. Một chuyên gia kiều bào không chỉ mang theo kiến thức cá nhân, mà còn có thể kết nối Việt Nam với phòng thí nghiệm, trường đại học, quỹ đầu tư, bảo tàng, tổ chức văn hóa, doanh nghiệp và cơ quan công quyền tại nước sở tại. Qua các hoạt động văn hóa Việt-Pháp, tôi nhận thấy đôi khi giá trị lớn nhất của một người kết nối không phải là điều họ trực tiếp làm, mà là những cánh cửa họ có thể mở ra cho đất nước.
Thứ tư là nguồn tri thức thuộc khoa học xã hội, văn hóa, giáo dục và truyền thông quốc tế. Khi nói đến “chất xám”, chúng ta thường nghĩ ngay đến công nghệ và kinh tế. Nhưng để một quốc gia phát triển bền vững còn cần năng lực nghiên cứu xã hội, bảo tồn văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia, đối thoại liên văn hóa và truyền đạt câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ mà thế giới có thể hiểu được.
Việt Nam cần xây dựng một bản đồ năng lực kiều bào có chiều sâu, cập nhật tự nguyện và tuân thủ bảo vệ dữ liệu; không chỉ ghi chức danh hay nơi làm việc, mà phải xác định rõ chuyên môn, kinh nghiệm, mạng lưới, khả năng tham gia và hình thức đóng góp phù hợp của từng người.
Vì vậy, Tiến sĩ Hà nhấn mạnh Việt Nam cần xây dựng một bản đồ năng lực kiều bào có chiều sâu, cập nhật tự nguyện và tuân thủ bảo vệ dữ liệu; không chỉ ghi chức danh hay nơi làm việc, mà phải xác định rõ chuyên môn, kinh nghiệm, mạng lưới, khả năng tham gia và hình thức đóng góp phù hợp của từng người.
Câu chuyện của cộng đồng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tại Nhật Bản là một minh họa cụ thể cho “nguồn lực quan hệ quốc tế” mà Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà nhắc tới. Theo ông Đỗ Văn Khắc, Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản (VADX Japan) kiêm Tổng Giám đốc FPT Japan Holdings, cộng đồng doanh nghiệp và kỹ sư công nghệ Việt Nam tại Nhật Bản không chỉ cung cấp dịch vụ cho thị trường sở tại, mà còn đóng vai trò như một “cầu nối tri thức và năng lực công nghệ” theo hai chiều. Một mặt, khi trực tiếp giải quyết những bài toán thực tế của khách hàng Nhật – từ hiện đại hóa hệ thống lõi, tự động hóa sản xuất đến ứng dụng AI – các kỹ sư Việt Nam đồng thời hấp thụ phương thức quản trị dự án, văn hóa chất lượng và kỷ luật vận hành của một trong những thị trường công nghệ khắt khe nhất thế giới. Mặt khác, theo ông Khắc, vượt qua được các tiêu chuẩn khắt khe của khách hàng Nhật về bảo mật, chất lượng và tiến độ cũng đồng nghĩa doanh nghiệp Việt có được một “tấm giấy thông hành” đủ tin cậy để cạnh tranh tại các thị trường như Bắc Mỹ, châu Âu hay Trung Đông – như cách VADX Japan cùng 8 doanh nghiệp thành viên, trong đó có FPT, giới thiệu hình ảnh “Vietnam DX” tại SusHi Tech Tokyo 2026.
Cùng một cách nhìn về nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng điểm gặp nhau rất quan trọng giữa Nghị quyết 23-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW nằm ở một vấn đề căn bản: muốn phát triển bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì trước hết phải phát triển bằng con người và trí tuệ. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng, kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế, đồng thời có cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao.
Vì vậy, theo ông, cách tiếp cận cũng cần thay đổi: không nên bắt đầu bằng câu hỏi “có bao nhiêu trí thức người Việt ở nước ngoài có thể huy động?”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “Việt Nam đang cần giải quyết những bài toán chiến lược nào?”
Nếu đất nước xác định bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến hay công nghệ lượng tử là những lĩnh vực cần tạo đột phá, thì với mỗi lĩnh vực phải xác định những nhiệm vụ cụ thể, sau đó tìm kiếm những người Việt Nam giỏi nhất trên thế giới có thể tham gia giải quyết. Khi ấy, Nghị quyết 23-NQ/TW không đứng riêng trong câu chuyện về người Việt Nam ở nước ngoài, mà gặp Nghị quyết 57-NQ/TW ở chính yêu cầu phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với tiếp thu, làm chủ những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới.
Không nên chỉ “mời chuyên gia về nước”. Việt Nam cần xây dựng mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu, trong đó một nhà khoa học có thể vẫn ở Silicon Valley, Tokyo hay Berlin nhưng tham gia một chương trình nghiên cứu quốc gia, hướng dẫn một nhóm nghiên cứu trẻ, chuyển giao công nghệ hoặc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với những hệ sinh thái công nghệ hàng đầu.
Quan trọng hơn, theo Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, không nên chỉ “mời chuyên gia về nước”. Việt Nam cần xây dựng mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu, trong đó một nhà khoa học có thể vẫn ở Silicon Valley, Tokyo hay Berlin nhưng tham gia một chương trình nghiên cứu quốc gia, hướng dẫn một nhóm nghiên cứu trẻ, chuyển giao công nghệ hoặc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với những hệ sinh thái công nghệ hàng đầu.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải cũng cho rằng mạng lưới ấy không nên chỉ là một danh sách chuyên gia. Giá trị của nó nằm ở khả năng kết nối nhà khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý vào những chương trình có đầu ra cụ thể. Khi một nhà khoa học ở Singapore có thể cùng đồng nghiệp trong nước phát triển công nghệ mới, một chuyên gia ở Hoa Kỳ kết nối doanh nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế hay một giáo sư ở châu Âu cùng đào tạo thế hệ kỹ sư trẻ, khoảng cách địa lý sẽ không còn là giới hạn của sự đóng góp.
“Chúng ta không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận thế giới, mà phải giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào quá trình tạo ra tri thức và công nghệ cùng thế giới”, ông nói.
Một mạng lưới như vậy đang dần hình thành trong thực tế. Tại Nhật Bản, VADX Japan hiện quy tụ 30 doanh nghiệp thành viên và đặt mục tiêu đến năm 2033 mở rộng mạng lưới, đạt tổng doanh thu cộng dồn khoảng 1.000 tỷ Yên (tương đương 6,5 tỷ USD), kết nối khoảng 170.000 nhân lực tại Nhật và phục vụ thị trường Nhật từ Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, theo ông Đỗ Văn Khắc, hiệp hội đang xây dựng nền tảng kết nối tri thức V-S.T.I.D, được bảo trợ bởi Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và do FPT tại Nhật Bản cùng các đơn vị thành viên trong Hiệp hội VADX phát triển, nhằm giúp các bộ, địa phương và doanh nghiệp trong nước tìm đúng chuyên gia, đúng tổ chức cho từng bài toán cụ thể; đồng thời thúc đẩy chương trình mentor - mentee, trong đó các doanh nghiệp đi trước như FPT, CMC, Rikkeisoft chia sẻ kinh nghiệm quản trị chất lượng, xây dựng đội ngũ và chuẩn hóa quy trình cho các doanh nghiệp nhỏ hơn trong cùng cộng đồng - một dạng “đội hình kép” ở quy mô doanh nghiệp.
Đây có lẽ là bước chuyển quan trọng nhất trong tư duy về nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài: từ “thu hút nhân tài” sang “kết nối trí tuệ”. Bởi nếu mục tiêu cuối cùng là giải những bài toán phát triển của đất nước, thì nơi một chuyên gia đang sống không còn là điều kiện quyết định. Điều quyết định là Việt Nam có bài toán đủ rõ, cơ chế đủ tốt và một hệ thống đủ thông minh để đưa đúng người vào đúng việc hay không.
Như Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng nhìn nhận, điều Việt Nam cần không chỉ là chính sách thu hút nhân tài, mà là một hạ tầng thể chế để trí tuệ Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia sáng tạo giá trị cho Việt Nam. Nếu làm được điều đó, Việt Nam có một lợi thế rất lớn: không nhất thiết phải sở hữu toàn bộ trí tuệ, nhưng phải có năng lực kết nối những trí tuệ tốt nhất của người Việt trên toàn thế giới để giải những bài toán phát triển của đất nước.
Cùng chung quan điểm, Tiến sĩ Trần Văn Khải đề xuất nguyên tắc “đội hình kép” bởi ông cho rằng, mỗi chuyên gia kiều bào không đến một mình mà dẫn dắt một nhóm nghiên cứu mạnh trong nước, với những chỉ tiêu rõ ràng về số kỹ sư, nghiên cứu sinh được đào tạo, số quy trình, thiết kế, mã nguồn được bàn giao và số sáng chế đồng sở hữu. Ông cũng đề xuất đưa điều khoản chuyển giao bắt buộc vào các hợp đồng, gắn chuyển giao với thị trường trong nước, biến các mạng lưới chuyên gia thành một dạng hạ tầng và kiên trì xây dựng năng lực nội sinh.
Cách tiếp cận này làm thay đổi căn bản khái niệm “thu hút nhân tài”. Mục tiêu không còn là đưa một người giỏi về Việt Nam, mà là để sự trở về của một người tạo ra thêm nhiều người giỏi ở Việt Nam.
Đầu tháng 8/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Mạng lưới chuyên gia AI Việt Nam toàn cầu, nhằm tập hợp các chuyên gia AI người Việt trên khắp thế giới và huy động nguồn lực này cho các chương trình khoa học, công nghệ quốc gia. Theo ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED, mô hình đang được xây dựng theo hướng mỗi công nghệ chiến lược được chia thành những bài toán cụ thể, có chuyên gia giữ vai trò “kiến trúc sư trưởng” để cùng bộ, ngành, địa phương thiết kế và tổ chức thực hiện. NAFOSTED cũng được định hướng trở thành đầu mối tiếp nhận đề xuất từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để tìm và mời chuyên gia phù hợp.
Một chuyên gia trở về không chỉ làm công việc của mình, mà đào tạo một nhóm nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu ấy tiếp tục đào tạo kỹ sư và nghiên cứu sinh. Những người được đào tạo tạo ra sản phẩm, sáng chế, doanh nghiệp mới. Doanh nghiệp lại tạo ra những bài toán mới để thu hút thêm chuyên gia. Khi đó, chất xám không còn là một dòng chảy một chiều từ nước ngoài về Việt Nam, mà trở thành một vòng tuần hoàn.
Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái khoa học công nghệ
Tuy nhiên, có bài toán lớn mới chỉ là điều kiện cần. Muốn giữ được người tài và biến tri thức thành năng lực quốc gia, Việt Nam cần một mắt xích quan trọng khác: doanh nghiệp.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải, một công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi có khả năng được ứng dụng và tạo ra giá trị kinh tế-xã hội. Vì vậy, doanh nghiệp phải trở thành một phần trung tâm của hệ sinh thái khoa học công nghệ.
Thực tế cho thấy rất nhiều nghiên cứu không thất bại trong phòng thí nghiệm mà thất bại khi bước ra thị trường. Khoảng cách giữa một công bố khoa học và một sản phẩm thương mại hóa luôn cần một chủ thể đứng giữa để hấp thụ công nghệ, kiểm chứng thị trường và mở rộng quy mô. Chủ thể đó chính là doanh nghiệp.
Chip bán dẫn - sản phẩm công nghệ tại Triển lãm Đổi mới sáng tạo VIIE 2025, tháng 10/2025. (Ảnh: Lưu Quý)
Chip bán dẫn - sản phẩm công nghệ tại Triển lãm Đổi mới sáng tạo VIIE 2025, tháng 10/2025. (Ảnh: Lưu Quý)
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Hải cho rằng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả phải được vận hành trên mối liên kết giữa Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp. Nhà nước kiến tạo chính sách và hạ tầng; trường đại học, viện nghiên cứu tạo ra tri thức và nguồn nhân lực; còn doanh nghiệp là nơi xác định nhu cầu thị trường, phát triển sản phẩm và chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị kinh tế.
Vai trò ấy của doanh nghiệp cũng thể hiện rõ trong hợp tác giữa các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tại Nhật Bản với đối tác trong nước. Ông Đỗ Văn Khắc dẫn thí dụ hợp tác giữa FPT, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và Konica Minolta, trong đó các bên cùng khai thác nhu cầu thực tiễn từ thị trường Nhật Bản – nơi doanh nghiệp Việt đang trực tiếp giải quyết những bài toán như già hóa dân số, thiếu hụt lao động hay hiện đại hóa hệ thống cũ – kết hợp với năng lực công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước để phát triển sản phẩm “Make in Vietnam” có khả năng ứng dụng tại nhiều thị trường. Theo ông, đó là minh chứng cho việc doanh nghiệp Việt tại nước ngoài không chỉ là nhà cung cấp dịch vụ, mà còn là cầu nối đưa bài toán quốc tế về Việt Nam để cùng chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị kinh tế thực chất.
Cũng vì vậy, việc thu hút chất xám kiều bào không nên chỉ được nhìn như một chính sách nhân tài. Bản chất sâu xa hơn là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để những người giỏi nhìn thấy tương lai nghề nghiệp của họ tại Việt Nam.
Khi một chuyên gia ở nước ngoài có thể cùng nhóm nghiên cứu trong nước phát triển công nghệ mới; khi doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư để đưa công nghệ đó ra thị trường; khi trường đại học đào tạo được lớp kỹ sư kế cận; và khi những người trẻ tiếp tục phát triển các công nghệ thế hệ mới, thì dòng "chất xám chảy ngược" mới thực sự trở thành năng lực nội sinh của quốc gia.
Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của hình ảnh "tổ chim phượng hoàng". Một quốc gia không thể phát triển chỉ bằng việc thu hút vài cá nhân xuất sắc. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một môi trường nơi những cá nhân ấy có thể đào tạo thế hệ tiếp theo, tạo ra công nghệ mới và hình thành những chuỗi giá trị mới. Khi đó, phượng hoàng không chỉ trở về làm tổ, mà còn sinh ra những cánh chim mới cho hành trình làm chủ các công nghệ chiến lược của đất nước.
Một quốc gia không thể phát triển chỉ bằng việc thu hút vài cá nhân xuất sắc. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một môi trường nơi những cá nhân ấy có thể đào tạo thế hệ tiếp theo, tạo ra công nghệ mới và hình thành những chuỗi giá trị mới. Khi đó, phượng hoàng không chỉ trở về làm tổ, mà còn sinh ra những cánh chim mới cho hành trình làm chủ các công nghệ chiến lược của đất nước.
Ngày xuất bản: 2/9/2026
Thực hiện: Hồng Vân, Thiên Lam, Thanh Huyền, Ngọc Bích
Ảnh: Báo Nhân Dân, VPG
Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước
Vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu.
