Ba chiến lược nền tảng cho dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Lộc.
Tiến sĩ Nguyễn Lộc.

- Ông có thể đưa ra một số nhận xét về thực trạng dạy học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân ở Việt Nam hiện nay?

- So với chuẩn trình độ quốc tế thông dụng, trình độ ngoại ngữ (thông qua thí dụ tiếng Anh) của HS-SV Việt Nam rất thấp; Họ chưa đủ năng lực để tự tin nghe hiểu những thông tin đơn giản; Họ không đủ năng lực ngoại ngữ để theo học các chương trình đào tạo quốc tế.

Theo kết quả thu được từ đề tài nghiên cứu mang lên "Đánh giá hiệu quả đào tạo tiếng Anh như một ngoại ngữ tại các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh" do Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh thì: Kết thúc năm thứ hai, SV mới chỉ đạt được khoảng 360-370 điểm TOEFL (3,5 IELTS), hoàn toàn chưa có khả năng tự diễn đạt ý tưởng của mình; khi tốt nghiệp, trình độ của SV cũng chỉ đạt khoảng 400 điểm TOEFL, thậm chí chưa đủ trình độ để được xét tham gia chương trình tiếng Anh dự bị ĐH ở một nước bản ngữ...

Cũng theo thống kê qua nhiều năm, tại nhiều cơ sở đào tạo sau đại học trong nước, thí sinh trượt chủ yếu do không đạt điểm sàn ngoại ngữ. Chỉ riêng năm 2004, tại hầu hết các cơ sở đào tạo con số dao động phổ biến từ 70-80% thí sinh thi trượt là do không đạt 50 điểm ngoại ngữ, thậm chí có những nơi con số đó là 100%, mặc dù chỉ tiêu vẫn còn thiếu rất nhiều.

Cũng chính vì trình độ ngoại ngữ yếu kém nên đội ngũ nhân lực Việt Nam - từ những người thuộc đội ngũ lao động đờn giản, có trình độ phổ thông trung học đến những người tốt nghiệp đại học hoặc hơn nữa, khi đi làm ở nước ngoài đều phải dành thời gian và tiền của khá lớn để học các lớp tăng cường ngoại ngữ với thời gian dài.

- Ông có thể cho biết đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân đã đưa ra những chiến lược cụ thể nào nhằm tạo nền tảng cho những biến đổi cơ bản của việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ của Việt Nam trong thời gian tới?

- Đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân mà chúng tôi xây dựng có đề xuất ba chiến lược nền tảng cho dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam.

Thứ nhất là chiến lược ưu tiên một số ngoại ngữ thông dụng nhất: Về nguyên tắc, đối với một quốc gia, nhà trường càng dạy nhiều ngoại ngữ cho công dân của mình thì càng tốt. Xu hướng dạy và học từ một đến hai, ba rồi bốn ngoại ngữ trong nhà trường đã trở nên hiện thực ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Song ở những nước có nguồn lực hết sức hạn chế như Việt Nam việc dàn trải dạy và học nhiều ngoại ngữ rõ ràng đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Đã đến lúc cần có chiến lược lựa chọn và ưu tiên dạy và học những ngoại ngữ thông dụng nhất để có thể tập trung nguồn lực ít ỏi quốc gia nhằm đạt một hiệu quả cao nhất. Chúng tôi hết sức quan tâm đến điều mà hiện nay là tiếng Anh đã đạt tới vị thế của "lingua franca"- ngôn ngữ được sử dụng để những người nói các ngôn ngữ khác nhau có thể hiểu nhau được. Điều cần nhấn mạnh là số lượng những người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai đã vượt hẳn số lượng người nói thứ tiếng này như ngôn ngữ thứ nhất. Hơn nữa, chắc chắn có 750 triệu người trên thế giới nói tiếng Anh như một ngoại ngữ, trong khi đó số người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất chỉ hơn 400 triệu. Đồng thời chúng ta phải cân nhắc đến các ngoại ngữ quan trọng truyền thống khác, những ngoại ngữ mới xuất hiện do nhu cầu cao như tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Hàn Quốc... Số liệu khảo sát mới nhất cho thấy ở nước ta, bậc THCS hiện nay 99,1% HS học tiếng Anh, trong khi đó chỉ có 0,6% học tiếng Pháp, 0,2% học tiếng Nga và 0,1% học tiếng Trung Quốc.

Thứ hai là chiến lược về hệ thống bậc trình độ ngoại ngữ: Đây là vấn đề kém cỏi của ta hiện nay. Có hai điều cần bàn ở đây: Thứ nhất không có sự liên kết giữa các trình độ năng lực ngoại ngữ giữa GD chính quy và không chính quy. Hình như hệ thống trình độ A, B, C phủ nhận việc dạy và học ngoại ngữ trong GD chính quy. Thứ hai là các bậc trình độ trong GD chính quy và không chính quy, dù mơ hồ hay tương đối rõ ràng đều không giúp chúng ta biết được năng lực ngoại ngữ này được sử dụng trong môi trường bên ngoài như thế nào. Do vậy, cần nhanh chóng đưa ra một hệ thống trình độ năng lực ngoại ngữ cụ thể để thiết kế sao cho dạy và học ngoại ngữ ở các cấp học có thể thực sự liên thông và tương thích với các trình độ năng lực quốc tế thông dụng.

       
Học sinh sẽ được học tiếng Anh từ lớp 3.

Thứ ba là chiến lược khẳng định vị trí môn ngoại ngữ so với các môn học khác. Nếu như trong chương trình môn học của các trường THCS và THPT Việt Nam, môn ngoại ngữ thường được xác định có vị trí như là một môn công cụ. Trong thực tiễn các môn về ngoại ngữ thường được bắt đầu học từ lớp 6 hoặc lớp 10 hoặc thậm chí không học. Về thời lượng các môn ngoại ngữ thường được dạy với thời lượng 3 tiết/tuần, trừ đối với lớp 9 chỉ có 2 tiết/tuần. Môn ngoại ngữ phải thi, song trong thực tế có thể được thay thế bằng việc thi một môn nào đó khác.

Đã đến lúc cần có một chiến lược mạnh mẽ hơn trong việc khẳng định vị trí môn ngoại ngữ trong so với các môn học khác. Để thực sự nâng cao hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ, ta cần đặt môn ngoại ngữ vào vị trí của các môn cơ bản và ngang hàng với các môn Toán và Văn. Việc nâng cao vị trí của môn ngoại ngữ sẽ cho phép thực hiện những thay đổi quan trọng, đó là: Nâng cao thời lượng dạy và học ngoại ngữ ở bậc phổ thông. Theo chương trình các môn ngoại ngữ hiện nay, số tiết dành cho dạy một ngoại ngữ ở phổ thông là 700 tiết. Trình độ ngoại ngữ mà HS tốt nghiệp lớp 12 đạt được ước chừng khoảng dưới 300 của TOEFL hoặc 2 của IELTS.

Có lẽ một trình độ năng lực ngoại ngữ tương đương với khoảng gần 500 TOEFL hoặc bậc 5 LELTS là phù hợp hơn để xác định yêu cầu trình độ ngoại ngữ đối với HS tốt nghiệp bậc THPT. Bậc này sẽ bảo đảm trang bị ngoại ngữ cho người học ở trình độ hợp lý. Muốn đạt đến bậc này, HS phổ thông cần học một thời lượng khoảng 1.400 tiết hoặc hơn nữa. Việc này chỉ có thể thực hiện nếu ta coi vị trí của môn ngoại ngữ ngang bằng với môn Toán và Văn; Triển khai việc dạy và học ngoại ngữ từ cấp học thấp hơn, chẳng hạn như từ bậc tiểu học. Việc này sẽ cho phép tăng thời lượng chung cho cả môn học, đồng thời tận dụng thời kỳ học tập rất có hiệu quả của HS; Môn ngoại ngữ sẽ bắt buộc phải thi mà không được thay thế bởi các môn học khác, qua đó đòi hỏi thái độ và nỗ lực lọc tập nghiêm túc của HS đối với môn ngoại ngữ...

- Lộ trình chiến lược mà Đề án giảng dạy học tập ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân đưa ra là gì, thưa ông?

- Có tám giải pháp mà chúng tôi đưa ra trong dự thảo Đề án này theo một lộ trình như sau: Đến năm 2007, bậc phổ thông bắt đầu đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo đảm trang bị ngoại ngữ cho người học ở trình độ phù hợp để họ có thể sử dụng ngoại ngữ đó một cách thuần thục để giao tiếp, tiếp tục học tập và làm việc mà không cần một sự đào tạo thêm dài hạn nào nữa. Mặt khác do nhu cầu và điều kiện khác nhau của từng địa phương, sẽ có hai chương trình dạy ngoại ngữ: Chương trình bảy năm bắt đầu từ lớp 6 cho các nơi chưa đủ điều kiện và chương trình 10 năm bắt đầu từ lớp 3 ở những thành phố lớn cũng như các địa phương có nhu cầu và có đủ điều kiện.

Từ năm 2010, triển khai dạy ngoại ngữ thứ hai đối với những nơi có nhu cầu và đủ điều kiện và đến 2015 tiếng Nhật và tiếng Đức sẽ được đưa thêm vào danh sách các ngoại ngữ được dạy chính thức. Ngoại ngữ cũng phải là môn thi tốt nghiệp bắt buộc đối với tất cả HS THPT.

Trong thời gian sắp tới, có nhiều việc phải làm mới có thể cải cách một cách triệt để việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân Việt Nam. Những gì mà chúng tôi nêu ra trong Đề án này chắc chắn sẽ đặt cơ sở vững chắc cho các thay đổi chi tiết về nội dung, chương trình, phương pháp, GV và các điều kiện khác bảo đảm việc đạt được các mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam đối với giảng dạy và học tập ngoại ngữ trong thập kỷ tới. Những đề xuất trong Đề án này đang được đưa ra xin ý kiến rộng rãi từ phía các cơ quan chức năng và hy vọng, sau khi được Bộ phê duyệt, Đề án sẽ được triển khai nhằm đáp ứng những kỳ vọng về ngoại ngữ mà chúng ta đang đặt ra cho thế hệ trẻ.

- Xin cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm