Ba anh em ruột tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ

NDĐT- Một gia đình có ba anh em đều tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đều có những thành tích cao, góp phần vào chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vì sự thống nhất đất nước. Hiện các ông vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, là niềm tự hào và chỗ dựa tinh thần cho con cháu. Với họ, những ký ức hào hùng năm xưa vẫn luôn hiện hữu trong tim.

Ba ông: Vũ Như Ý, Vũ Như Úy và Vũ Tiến Luyến.
Ba ông: Vũ Như Ý, Vũ Như Úy và Vũ Tiến Luyến.

Ba cựu chiến binh cùng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ đó là ông Vũ Như Ý (sinh năm 1929), Vũ Như Úy (sinh năm 1932) và Vũ Tiến Luyến (sinh năm 1934), trong một gia đình nghèo đông anh em ở huyện Đông Quan, nay là huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Cha mẹ các ông sinh hạ được cả thảy mười người con, nhưng đều cố gắng cho học hành. Lớn lên, gặp cảnh đất nước bị xâm lược, các anh em ông Vũ Như Ý đều lần lượt nhập ngũ, tham gia đánh giặc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ông Ý là con trai cả nên sớm tham gia đội học Sinh cứu quốc và phải xa nhà liên miên. Năm 1945, ông theo anh rể là nhà văn Chu Văn cùng tham gia cướp chính quyền ở huyện Đông Quan rồi lấn sang thị xã Thái Bình. Tháng 1-1946, ông Ý chuyển sang Vệ quốc đoàn, đóng quân ở Phả Lại, Đông Triều (vùng giáp ranh tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương), tổ chức chống nhiều trận càn của thực dân Pháp. Đến năm 1949, ông Ý được kết nạp Đảng và được cử đi học trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa V, được học cả Bộ binh và Pháo binh, sau khi tốt nghiệp, được cử về công tác tại Cục Pháo binh.

Chiến dịch Biên giới nổ ra, ông Ý về đơn vị Sơn pháo 75, giúp đỡ các đơn vị pháo binh tham gia chiến dịch, cùng đồng đội anh dũng chiến đấu và góp phần làm nên chiến thắng ở điểm Cốc Xá (Đông Khê). Sau chiến dịch Biên giới, ông ở lại Cao Bằng, đơn vị của ông sáp nhập vào Trung đoàn Bộ binh 34 và đổi thành Trung đoàn lựu pháo 105 ly. Ngày 20-12-1953, Trung đoàn được lệnh hành quân tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông Ý kể lại: “Thời gian trước đó, chúng tôi nhận pháo, xe và khí tài giấu ở rừng Bắc Quang - Bắc Mục (Tuyên Quang), lúc này hành quân lên Điện Biên Phủ, phải vượt qua bao núi, bao đèo. Lúc nào chúng tôi cũng bị địch theo dõi, càn quét. Đến Điện Biên Phủ, toàn thể anh em quan trắc - thông tin của Trung đoàn phải khẩn trương triển khai đo đạc địa hình chiến đấu pháo binh theo phương châm “giải quyết nhanh” trên địa hình đồi núi phức tạp. Nhưng các đồng đội của chúng tôi đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình”.

Ông Vũ Như Úy, em ông Ý, nhập ngũ năm 1950, vào Tiểu ban Công binh (Trung đoàn 64 - Đại đoàn 320) tham gia chiến dịch trung du khi vừa tròn mười tám tuổi. Đến tháng 10-1951, được bổ sung vào Tiểu đoàn 80 Đại đoàn 308 (Quân tiên phong) đánh Pháp đổ bộ lên Phú Thọ.

Cuối năm 1953, ông đóng quân ở Sông Công (Bắc Thái) chuẩn bị cho chiến dịch “Trần Đình” - Điện Biên Phủ. Dù đã từng tham gia chiến đấu nhiều trận, nhưng chưa bao giờ Như Úy thấy vất vả như đợt hành quân này. Trước ngày hành quân, mọi người phải lên rừng lấy nứa đan bồ để đựng lương thực và quân trang cần thiết. Suốt đêm, cả đoàn quân vượt bến Ô Lâu (Yên Bái) bằng thuyền nan như đi trảy hội. Khi lên đèo Pha Đin, mọi người mới biết mình lên Điện Biên. Công việc đầu tiên là đào hào chiến đấu, mỗi người phải hoàn thành 3m dài, sâu ngập đầu người. Vất vả nhất là việc đào hầm cho pháo, rồi kéo pháo vào - ra theo chiến thuật.

Công việc còn dở dang thì Vũ Như Úy được lệnh hành quân sang Lào với nhiệm vụ cô lập Điện Biên Phủ, đánh chặn đường rút của Pháp theo hướng này. Ông và đồng đội truy kích địch đến gần Luông Pha Băng mới quay về. Đến Điện Biên thì trận mở màn Him Lam bắt đầu. Ông Úy kể lại: “Đơn vị tôi được giao nhiệm vụ tiêu diệt Đồn 206 - Đồn 311A, khống chế sân bay Mường Thanh. Tiểu đội súng Badôka của tôi trong trận đánh đồn 311A bị thương vong gần hết, chỉ còn tôi và đồng chí Ngọc. Tôi động viên đồng chí Ngọc bò theo tôi, lách qua những đồng đội hy sinh, rồi chúng tôi lợi dụng pháo sáng của địch bắn vào khẩu pháo của địch. Mục tiêu bị tiêu diệt, lúc đó các tiểu đoàn bạn mới nhất tề xông lên làm chủ đồn 311A. Sau trận đánh này, tôi được Bộ Quốc phòng trao tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba và được kết nạp Đảng.”

Ông Vũ Tiến Luyến nhập ngũ tháng 9-1952, sau huấn luyện được bổ sung vào C673. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Luyến là chiến sĩ ở tổ mở đường, đào hào, kéo pháo vào trận địa. Với công sức của hàng nghìn chiến sĩ, chiến hào cứ dài dần theo bước tiến quân. Chiến sĩ đánh tới đâu, chiến hào theo tới đó. Địch phát hiện, phản kích, tìm cách lấp chiến hào, chiến sĩ ta giáng trả. Khi địch rút, ta lại đào chiến hào để tiến công tiếp. Đây là một công việc được tiến hành rất tỉ mỉ, chu đáo và gian khổ. Bộ đội ta đã xây dựng hai loại giao thông hào: Một là loại giao thông hào trục, dùng cho việc cơ động bộ binh, cơ động pháo binh, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng, vây quanh trận địa ở phân khu trung tâm của địch.

Ông Ý cho biết, ba anh em đều không biết các anh, em mình cùng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng đánh đồi A1. Phải mãi sau khi miền bắc độc lập, ba người gặp nhau mới biết chuyện vì mỗi người tham gia một đơn đơn vị khác nhau. Họ thấy đó là niềm tự hào, niềm may mắn và mỗi khi nghĩ đến chiến thắng Điện Biên Phủ, đều thấy đó là một chiến thắng oanh liệt của một thời vì Tổ quốc linh thiêng.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Ý về công tác ở Phòng Huấn luyện Bộ Tư lệnh Pháo binh. Từ năm 1960 đến 1964, ông được cử đi học Đại học Thể dục Thể thao ở Liên Xô rồi về trường Tập huấn Thể thao Quân đội. Từ năm 1973, ông tham gia các chiến dịch kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày thống nhất đất nước, ông về làm Trưởng phòng Thể dục Thể thao Quân đội cho đến năm 1989 thì nghỉ hưu. Với kiến thức đã được học, được trải nghiệm, ông Ý được bầu làm Tổng Thư ký Liên đoàn Quần vợt Việt Nam trong suốt hai nhiệm kỳ.

Sau tháng 7-1954, ông Úy về tiếp quản Thủ đô rồi về Tỉnh đội Thái Bình nhận nhiệm vụ. Năm 1960, ông Úy được chuyển sang huấn luyện môn bắn súng ở Ty Thể dục - Thể thao Thái Bình và tham gia chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Năm 1971, ông Úy làm Hiệu trưởng trường Huấn luyện Thể dục - Thể thao Thái Bình.

Còn ông Vũ Tiến Luyến, là em thứ ba sau này cũng thuyên chuyển công tác thường xuyên. Đến năm 1981 về làm Phó Chủ nhiệm khoa Quân sự - Học viện Lục quân.

Là gia đình có truyền thống cách mạng, các anh em ông Vũ Như Ý đều là những thanh niên sớm ý thức được nỗi khổ của người dân mất nước, lại được giác ngộ cách mạng sớm nên đã sớm tham gia chiến đấu. Ở cương vị nào, họ cũng dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhiều lần được Đảng và Nhà nước tặng bằng khen, huân, huy chương. Đặc biệt, cả sáu anh em trai trong gia đình đều là những đảng viên, có tuổi Đảng từ năm mươi năm năm trở lên. Các ông đã sống, chiến đấu và làm việc trong tinh thần của những người yêu nước và tự hào về truyền thống yêu nước của gia đình.

Có thể bạn quan tâm