Tháng 11-1946, giữa lúc Hà Nội đang sôi động chuẩn bị kháng chiến thì Bác Hồ kính yêu đã đến thăm trường. Khi tình hình trở nên quá căng thẳng, Chính phủ ra lệnh đóng cửa các trường học và vận động nhân dân đi tản cư kháng chiến.
Tháng 3-1947, khi tiếng súng còn vang dội ở chung quanh Hà Nội, thì tại chiến khu Việt Bắc, Bộ Quốc gia giáo dục quyết định thành lập Trường trung học kháng chiến Chu Văn An (THKCCVA).
Ðây là trường trung học chuyên khoa đầu tiên được mở ra ở Việt Bắc sau ngày toàn quốc kháng chiến.
Trường được đặt ở thôn Ðông Lĩnh, thuộc xã Ðào Giã (nay là xã Ðông Lĩnh, Thanh Ba, Phú Thọ). Học sinh từ các tỉnh đồng bằng và trung du lác đác lên, ban đầu có vài chục người sau lên tới vài trăm, phần lớn từ Trường Chu Văn An, Trường Nguyễn Trãi ở Hà Nội, cũng có người đã tham gia công tác từ ngày Cách mạng Tháng Tám được cơ quan và đoàn thể cử đi học.
Ðặc biệt có học sinh đi bộ hàng trăm km trên các con đường đã bị phá hoại để làm chậm bước tiến của giặc hoặc vượt qua đường 5 nguy hiểm. Thầy trò coi nhau như anh em nhưng không vì thế mà việc giảng dạy xuề xòa, thiếu nghiêm túc. Học sinh đều được Nhà nước cấp học bổng 100 đồng mỗi tháng. Cả thầy và trò đều bước vào cuộc sống tập thể trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ.
Ðiều đặc biệt là nhà trường có một Chi bộ đảng gần mười học sinh, trong khi chưa có thầy giáo nào là đảng viên, mấy năm sau mới kết nạp được thêm vài chục học sinh và vài ba thầy giáo. Chi bộ đã lãnh đạo phong trào văn nghệ, thể thao và tăng gia sản xuất. Nhưng sản xuất thất bại: sắn trồng trên đất cằn không ra củ còn rau muống cấy trên ruộng nước mạch lạnh quá không mọc được.
Chi bộ còn phối hợp hoạt động với phong trào thanh niên Phú Thọ. Ðiều đặc biệt nữa là ở trường còn có một Chi bộ đảng Dân chủ để kết nạp thanh niên trí thức. Trường tiếp tục dạy theo chương trình Hoàng Xuân Hãn cấp trung học chuyên khoa ứng với cấp trung học phổ thông hiện nay, chia làm ba ban: toán - lý, hóa - văn và văn - sinh ngữ. Nhưng ban nào cũng phải học môn địa lý, cơ sở sinh học và Pháp văn hoặc Anh văn, riêng ban sinh ngữ học cả hai sinh ngữ.
Ngoài các môn học trên lớp còn có các giờ thể dục-thể thao và sinh hoạt văn nghệ, cho nên mặc dù ăn uống thiếu thốn nhưng thầy, trò vẫn duy trì được không khí lạc quan vui tươi.
Vấn đề khó là thiếu sách giáo khoa tiếng Việt. Nhiệm vụ này được Bộ trực tiếp giao cho trường thực hiện. Tuy quá thiếu tài liệu tham khảo, nhưng các thầy giáo trẻ vẫn cố gắng vừa dạy vừa viết giáo trình cho năm thứ ba.
Ðể in sách, trường phải cử người sang học in li-tô ở một xưởng in của quân đội và cử thầy Vũ Huyến xuống khu 3 mua các phiến đá in in li-tô: đá vôi hạt rất mịn mỗi lần có thể in được bốn trang khổ A4 ngày nay. Một học sinh năm thứ hai được cử phụ trách xưởng in, vừa học, anh vừa phải lo mua nguyên vật liệu: giấy, mực, dụng cụ in và trả công cho thợ in, anh được các bạn tặng cho biệt danh là "Kỳ đá".
Thợ in được chọn là những học sinh có chữ đẹp viết ngược trên mặt đá bằng một loại mực đặc biệt chỉ ăn mực chứ không ăn nước. Một học sinh có biệt tài minh họa và trình bày bìa lúc ấy sau này đã thành họa sĩ có tên tuổi: Lưu Công Nhân. Mỗi lần in có thể được vài chục bản. Công in tuy ít nhưng cũng góp phần nào bổ sung cho học bổng ít ỏi.
Ðến giữa năm 1948, một chồng sách toán, lý, hóa in li-tô của trường THKCCVA được đem xuống tặng Trường trung học Yên Mô ở Ninh Bình, nhân dịp chúng tôi được cử về đó chấm thi tốt nghiệp. Mặc dù việc dạy và học gặp nhiều khó khăn, các kỳ thi tú tài vẫn được tổ chức khá nghiêm túc.
Chính Giám đốc Trung học vụ GS Ngụy Như Kon Tum trực tiếp làm chủ khảo: kỳ thi chính quy gồm cả thi viết và vấn đáp. Ðiều đặc biệt là có nhiều học sinh năm thứ hai tuy không học năm thứ ba vẫn được dự thi tốt nghiệp.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn chuẩn bị phản công, một cuộc động viên lớn đã được tiến hành trong cả nước. Mùa xuân năm ấy, tại Trường THKCCVA đã diễn ra một việc "động trời". Chi bộ lãnh đạo hầu hết học sinh xung phong tòng quân, đòi ra tiền tuyến chiến đấu. Trường hết học trò, đích thân Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên phải thuyết phục giữ lại một số học sinh với các thầy giáo để thành lập Trường sư phạm trung cấp Trung ương (năm 1951 chuyển sang Khu học xá Trung ương). Trường trung học kháng chiến Chu Văn An đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Trong hoàn cảnh đất nước bị bao vây bốn bề và cuộc kháng chiến ở giai đoạn khó khăn nhất mà từ năm 1947 đến 1950, trường đã đào tạo được gần 300 thanh niên bậc trung học có kiến thức cơ bản, trung thành với sự nghiệp cách mạng, đã trực tiếp tham gia kháng chiến sau này đã trở thành những cán bộ tốt trong các ngành sư phạm, y dược, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, quản lý kinh tế, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, v.v.
Nhiều người đã được phong thiếu tướng, đại tá, có người được phong Thầy thuốc Nhân dân, chuyên gia đầu ngành Y, Nghệ sĩ Nhân dân, có bạn được phong Anh hùng Lao động, có bạn giữ chức thứ trưởng, bộ trưởng, Ủy viên T.Ư Ðảng, đại biểu Quốc hội.
Cùng với trò, các thầy THKCCVA cũng không ngừng tiến bộ cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp trồng người và nghiên cứu khoa học như các thầy Nguyễn Thạc Cát, Ðoàn Hựu, Nguyễn Văn Chiển, Vũ Trường Dự, Phạm Văn Hoàn, Ngô Thúc Lanh, Dương Trọng Bái... Nhiều thầy đã được công nhận là Nhà giáo Nhân dân, có thầy là Anh hùng Lao động, có thầy được giải thưởng Hồ Chí Minh.
Thực tiễn 60 năm qua, chứng minh sự nghiệp giáo dục của Trường THKCCVA đã thành công và đạt được những thành tựu tốt đẹp, thực hiện đúng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân Ngày toàn quốc kháng chiến.
Sự thành công đó để lại cho chúng ta một số bài học quý giá. Ðó là trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ thiếu thốn trăm bề, chính tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm chống giặc ngoại xâm là động cơ mãnh liệt thúc đẩy thầy trò hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và học tập.
Nhờ được trang bị tốt những kiến thức phổ thông và nhất là ngoại ngữ ngay từ cấp 1 và cấp 2 cho nên tuy học ít và thoải mái, học sinh Trường THKCCVA sau này vẫn thành đạt trong phần lớn các lĩnh vực của xã hội. Việc phân ban ở cấp trung học phổ thông là cần thiết, nhưng nếu tiến hành sớm từ lớp 10 đã phân cứng hai hoặc ba ban thì trừ trường hợp đặc biệt, với tuổi 15, 16 các học sinh chưa đủ hiểu biết và kinh nghiệm để chọn ban, đa số lại do cha mẹ chọn hộ.
Vả lại nếu sớm phân ban cứng từ lớp 10, thì cấp ba đâu còn là trung học phổ thông nữa mà phải gọi là trung học chuyên khoa. Kinh nghiệm trường chuyên khoa THKC tuy phân ba ban sớm nhưng vẫn không quyết định hướng nghề của sinh viên sau này.
Theo suy nghĩ và kinh nghiệm riêng của chúng tôi thì lên lớp 12 mới phân cứng thành hai hoặc ba ban lúc ấy học sinh đã 17-18 tuổi chín chắn hơn để chọn ban thích hợp sau này lên đại học. Phân ban cứng sớm quá dẫn tới việc học sinh học lệch, thi gì học nấy.
Trường hợp có những em sớm thể hiện khả năng đặc biệt về văn hoặc về toán thì có thể có sự phân ban mềm từ lớp 10, song ngoài sinh ngữ vẫn phải coi văn và toán là hai môn quan trọng.
GS, NGND Nguyễn Văn Chiển