Nâng cao kỹ năng và trách nhiệm của công dân số
Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Xây dựng công dân số không chỉ là giúp người dân biết sử dụng công nghệ mà quan trọng hơn là giúp mỗi người hiểu rõ quyền, trách nhiệm của mình, biết khai thác các tiện ích số phục vụ công việc, học tập, cuộc sống và tự bảo vệ trước những rủi ro trên môi trường mạng. Đối với công nhân lao động, đây là yêu cầu thiết thực, gắn với cơ hội việc làm, học tập và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.
Xây dựng công dân số là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân. Trong đó, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu; tổ chức công đoàn đồng hành, hỗ trợ đoàn viên, người lao động nâng cao kỹ năng số; doanh nghiệp quan tâm tạo điều kiện để người lao động học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và tiếp cận công nghệ mới. Đồng thời, mỗi đoàn viên, người lao động cần chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng, nâng cao năng lực thích ứng và sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng việc làm, cải thiện đời sống và mở rộng cơ hội phát triển bản thân.
Thiếu tá Ngô Đại Nam, Cục An ninh mạng, Bộ Công an: Bên cạnh nhận thức về quyền và trách nhiệm, việc trang bị kỹ năng số cho người dân cũng cần được chú trọng. Kỹ năng số không đơn thuần là biết sử dụng điện thoại thông minh, các nền tảng mạng xã hội hay dịch vụ công trực tuyến, mà còn bao gồm khả năng nhận diện thông tin giả mạo, phát hiện các phương thức lừa đảo trực tuyến, bảo vệ tài khoản và dữ liệu cá nhân, sử dụng công nghệ một cách an toàn, hiệu quả. Đặc biệt, mỗi người cần hình thành thói quen kiểm chứng nguồn tin, không vội vàng tin tưởng hoặc chia sẻ những nội dung giật gân, kích động, chưa được xác thực; biết cách phản ánh, báo tin khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Đồng chí Bùi Quốc Huân, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng: Đảng ủy xã đã và đang đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ, đưa các vấn đề nhận diện tin giả, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kỷ luật phát ngôn trên không gian mạng vào sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa hành vi ứng xử trên mạng xã hội theo Quy định 207 và Quy định 85-QĐ/TW.
Đồng thời, Đảng ủy quán triệt cán bộ, đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số, chủ động tiếp cận công nghệ, sử dụng các nền tảng số và phần mềm Sổ tay Đảng viên điện tử. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trợ lý số trong tóm tắt văn bản, tổng hợp báo cáo và thiết kế sản phẩm tuyên truyền được yêu cầu đi đôi với kiểm chứng chặt chẽ, không phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc và không để lộ bí mật thông tin.
Công tác kiểm tra, giám sát và nắm bắt tư tưởng cũng được chú trọng để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên không gian mạng. Kết quả thực hiện quy tắc ứng xử trên môi trường số được đưa vào tiêu chí đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên hằng năm.
Ông Trần Văn Chín, Chủ tịch Công ty cổ phần Công nghệ Arobid.com: Nâng cao nhận thức về quyền, trách nhiệm và kỹ năng trên môi trường số phải bắt đầu từ chuyển đổi tư duy. Mỗi người cần hiểu rằng những gì mình đăng tải, chia sẻ hay ứng xử trên mạng đều có thể tác động đến người khác và cộng đồng.
Quyền, trách nhiệm và kỹ năng cần được đặt trong cùng một mối quan hệ. Mỗi người cần hiểu quyền được bảo vệ thông tin cá nhân, được tiếp cận thông tin và các cơ hội trên môi trường số; đồng thời có trách nhiệm tôn trọng quyền của người khác, kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm nêu gương phải thể hiện cả trên môi trường số, từ cách phát ngôn đến cách sử dụng dữ liệu và phục vụ người dân.
Chuyển đổi số phải thật sự giảm phiền hà cho người dân
Anh Nguyễn Văn Ngọc, xã An Khánh, thành phố Hà Nội: Lợi ích dễ thấy nhất của chuyển đổi số là việc thực hiện các thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện hơn trước rất nhiều. Thay vì phải xin nghỉ làm, đi lại nhiều lần để làm giấy tờ, giờ đây, nhiều thủ tục có thể thực hiện ngay tại nhà qua điện thoại, vừa tiết kiệm thời gian, vừa giảm công sức và chi phí đi lại.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng vẫn có những bất cập. Một số trường hợp, hồ sơ trực tuyến chưa được xử lý thông suốt do thông tin trong các cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ hoặc chưa thống nhất, khiến người dân phải bổ sung giấy tờ, liên hệ cơ quan chức năng để xác minh. Bên cạnh đó, các ứng dụng, website đôi khi gặp lỗi hoặc đường truyền không ổn định, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện thủ tục.
Tôi mong muốn dữ liệu giữa các cơ quan được kết nối, liên thông đồng bộ hơn; những thông tin người dân đã cung cấp và được xác thực trên hệ thống cần được khai thác hiệu quả, tránh yêu cầu kê khai hoặc nộp lại nhiều lần. Với những hồ sơ đã đủ điều kiện giải quyết trực tuyến, người dân nên được hoàn tất thủ tục trên môi trường số, chỉ cần đến trực tiếp khi thật sự cần thiết. Có như vậy, chuyển đổi số mới thực sự giúp người dân giảm bớt phiền hà, tiết kiệm thời gian và thuận tiện hơn trong cuộc sống.
Chị Bùi Thị Huệ, chuyên viên đấu thầu, Công ty cổ phần công nghệ phòng cháy Thành Nam: Là nhân viên chuyên thực hiện đấu thầu qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, tôi nhận thấy chuyển đổi số mang lại nhiều thuận lợi thiết thực. Tốc độ xử lý công việc nhanh hơn trước, các thao tác trên hệ thống tương đối dễ hiểu. Nhà thầu có thể nộp hồ sơ trực tuyến ngay tại nhà hoặc nơi làm việc, không phải di chuyển trực tiếp đến chủ đầu tư. Việc hạn chế hồ sơ giấy cũng giúp tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí in ấn và đi lại.
Bên cạnh đó, các thông tin, văn bản liên quan đến đấu thầu được cập nhật qua hệ thống, giúp nhà thầu tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận tiện. Việc tổ chức đấu thầu qua mạng còn tạo điều kiện để nhiều nhà thầu đủ điều kiện tham gia, góp phần tăng tính cạnh tranh và minh bạch.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, khó khăn là khi có thông tư hoặc quy định mới về đấu thầu, người dùng đôi khi chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện trên hệ thống. Chẳng hạn, với những yêu cầu mới như thu thập báo giá của các nhà thầu, nếu có tài liệu hướng dẫn từng bước thì người sử dụng sẽ dễ nắm bắt và thực hiện đúng hơn.
Tôi mong muốn hệ thống không chỉ cập nhật kịp thời các quy định mới mà còn có hướng dẫn thao tác cụ thể, dễ hiểu, kèm thí dụ thực tế để nhà thầu thuận tiện tra cứu và áp dụng. Đồng thời, cần có kênh hỗ trợ giải đáp nhanh những vướng mắc phát sinh, giúp các tiện ích số ngày càng dễ sử dụng, hiệu quả và thực sự phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Đổi mới cách chính quyền phục vụ người dân
Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm: Nếu trước đây người dân phải xếp hàng tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ, thì chuyển đổi số không nên chỉ thay thế việc xếp hàng trực tiếp bằng việc chờ đợi trên môi trường điện tử. Chuyển đổi số phải gắn với trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Khi dữ liệu đã được cơ quan nhà nước thu thập và có thể khai thác theo quy định, cần hạn chế tối đa việc yêu cầu người dân cung cấp lại. Khi hồ sơ chậm trễ, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện trách nhiệm thông báo, hướng dẫn và giải quyết theo quy định, đồng thời tạo điều kiện để người dân theo dõi tiến độ, phản ánh hoặc khiếu nại khi cần thiết. Chuyển đổi số vì thế không chỉ là đơn giản hóa thao tác nộp hồ sơ mà còn phải giảm những nghĩa vụ hành chính không cần thiết và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.
Đặc biệt, khi hệ thống dịch vụ công trực tuyến gặp sự cố, cần có phương án hỗ trợ, tiếp nhận và xử lý thay thế phù hợp. Cần nghiên cứu cơ chế ghi nhận thời điểm người dân thực hiện thao tác nộp hồ sơ, thông tin về sự cố và các bằng chứng liên quan, làm căn cứ xem xét bảo vệ quyền lợi của họ theo quy định pháp luật, nhất là đối với những thủ tục có thời hạn thực hiện. Việc xác định hồ sơ đã được nộp hợp lệ hay chưa vẫn phải căn cứ vào quy định áp dụng đối với từng thủ tục, nhưng không thể mặc nhiên chuyển mọi rủi ro phát sinh từ hoạt động của hệ thống công nghệ sang phía người sử dụng dịch vụ công.
Một vấn đề khác cần được đặc biệt quan tâm là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi ngày càng nhiều thông tin của công dân được thu thập, kết nối và xử lý trên môi trường số, yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật phải được đặt ngang hàng với mục tiêu thuận tiện và nhanh chóng. Việc khai thác, chia sẻ dữ liệu cần tuân thủ đúng mục đích, thẩm quyền và quy định pháp luật. Đồng thời, người dân phải có điều kiện thực hiện các quyền liên quan đến dữ liệu cá nhân của mình, bao gồm việc kiểm tra, yêu cầu chỉnh sửa thông tin không chính xác và phản ánh, yêu cầu xử lý khi phát hiện dữ liệu bị sử dụng hoặc tiết lộ trái phép, theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, phát triển công dân số cũng cần tính đến sự khác biệt về điều kiện và kỹ năng tiếp cận công nghệ giữa các nhóm dân cư. Người cao tuổi, người khuyết tật, người dân vùng sâu, vùng xa hoặc những người chưa thành thạo thiết bị số cần được hỗ trợ bằng những phương thức phù hợp. Mở rộng dịch vụ công trực tuyến phải đi đôi với duy trì các hình thức hỗ trợ cần thiết, để công nghệ trở thành công cụ mở rộng khả năng tiếp cận quyền, thay vì tạo thêm rào cản đối với một bộ phận người dân. Như vậy, chuyển đổi số không chỉ là thay đổi cách người dân thực hiện thủ tục hành chính mà quan trọng hơn phải thay đổi cách cơ quan công quyền thực hiện trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Ông Trần Văn Trí, Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Luật Việt Nam (LuatVietnam.vn):
Thách thức hiện nay không chỉ là có bao nhiêu ứng dụng số, mà là có bao nhiêu người dân thực sự sử dụng chúng và sử dụng thường xuyên, hiệu quả. Để nâng cao nhận thức và thúc đẩy người dân chủ động tham gia môi trường số, cần quan tâm đến một số vấn đề.
Thứ nhất, chuyển đổi từ tư duy tuyên truyền về công nghệ sang tuyên truyền về lợi ích cụ thể. Người dân không nhất thiết phải hiểu công nghệ được xây dựng như thế nào, nhưng cần biết công nghệ giúp ích gì cho mình. Chẳng hạn, thay vì phải đến cơ quan nhà nước, người dân có thể thực hiện thủ tục hành chính ngay tại nhà; thay vì phải tìm hiểu nhiều văn bản pháp luật phức tạp, người dân có thể sử dụng trợ lý AI để được hướng dẫn, giải đáp chính sách. Khi người dân thấy được việc sử dụng dịch vụ số giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức và mang lại sự thuận tiện, họ sẽ tự nguyện sử dụng. Đó chính là động lực bền vững nhất để hình thành thói quen số.
Thứ hai, các dịch vụ số phải thực sự dễ sử dụng, dễ tiếp cận và lấy trải nghiệm của người dân làm trung tâm. Một dịch vụ số tốt không phải là dịch vụ có nhiều tính năng nhất, mà là dịch vụ giúp người dân giải quyết công việc một cách đơn giản, nhanh chóng và tin cậy nhất.
Vừa qua, LuatVietnam đã cung cấp dịch vụ AI hỏi đáp chính sách thuế trên ứng dụng eTax Mobile của Cục Thuế. Đây là một thí dụ cụ thể về việc đưa công nghệ AI đến gần hơn với người dân thông qua nền tảng số của cơ quan nhà nước, giúp người nộp thuế có thêm công cụ thuận tiện để tìm hiểu chính sách, nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Tôi cho rằng đây cũng là hướng đi cần được nhân rộng trong các lĩnh vực khác như bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục, đất đai, lao động và các thủ tục hành chính.
Thứ ba, phát triển công dân số cần gắn với việc hình thành kỹ năng và văn hóa số. Bên cạnh việc khuyến khích sử dụng các nền tảng số, cần trang bị cho người dân những kỹ năng cơ bản như bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện thông tin giả, phòng tránh lừa đảo trực tuyến và ứng xử có trách nhiệm trên môi trường mạng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của cán bộ, công chức, đoàn viên, thanh niên và các tổ công nghệ số cộng đồng trong việc trực tiếp hướng dẫn người dân. Mỗi người trẻ có kỹ năng số có thể trở thành một người hướng dẫn cho cha mẹ, ông bà và những người chung quanh.
Thứ tư, cần có cơ chế khuyến khích thiết thực và phát huy vai trò của doanh nghiệp công nghệ. Các chính sách ưu đãi, miễn, giảm phí, lệ phí khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến là những biện pháp có ý nghĩa trong việc khuyến khích người dân thay đổi thói quen. Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ tham gia phát triển các dịch vụ số phục vụ cộng đồng, đặc biệt thông qua việc kết nối, khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên cơ sở bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ pháp luật.
Ngày Công dân số Việt Nam không chỉ là một ngày để tuyên truyền về chuyển đổi số, mà cần trở thành động lực để mỗi người dân bắt đầu từ những hành động nhỏ như: Sử dụng một dịch vụ công trực tuyến, thực hiện một giao dịch số an toàn, tìm hiểu một chính sách qua công cụ số hoặc hướng dẫn một người thân sử dụng công nghệ. Khi công nghệ trở nên gần gũi, hữu ích và được người dân chủ động sử dụng mỗi ngày, khi đó chúng ta mới thực sự xây dựng được một xã hội số lấy người dân làm trung tâm.