Từ một cội rễ Nhân Dân

Từ một cội rễ Nhân Dân

Trong lịch sử 75 năm qua, Báo Nhân Dân từng có những năm tháng hoạt động rất đặc biệt, để lại dấu ấn đặc sắc, rõ nét trong giai đoạn 1952-1954. Về sau, các nhà nghiên cứu gọi đó là giai đoạn “tam giác Nhân Dân”, góp phần “nhân lên phẩm chất sáng tạo từ hai phiên bản hiếm có trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam”.

1. Ngày 11/3/1951, Báo Nhân Dân ra số đầu. Do tính chất quan trọng của Báo Nhân Dân, với những số báo đầu, các đồng chí Trường Chinh (Tổng Bí thư), Tố Hữu (Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng), các đồng chí trong Ban Biên tập là Vũ Tuân, Hoàng Tùng, Trần Quang Huy, Thép Mới... đều trực tiếp sửa duyệt từng tin, bài, ảnh, ký họa. Những tháng đầu, đồng chí Trần Quang Huy làm Chủ nhiệm, phụ trách tòa soạn (tương đương như Tổng Biên tập); đồng chí Hoàng Tùng phụ trách nội dung. Báo Nhân Dân (Trung ương) được in ấn, phát hành từ Tuyên Quang lan tỏa ra khắp Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; theo đường giao liên chuyển dần vào phía nam đất nước.

Do tính chất quan trọng của Báo Nhân Dân, với những số báo đầu, các đồng chí Trường Chinh (Tổng Bí thư), Tố Hữu (Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng), các đồng chí trong Ban Biên tập là Vũ Tuân, Hoàng Tùng, Trần Quang Huy, Thép Mới... đều trực tiếp sửa duyệt từng tin, bài, ảnh, ký họa.

Tuy vậy, vào thời ấy, cuộc kháng chiến trường kỳ đang bước vào giai đoạn gay go, ác liệt và quyết định nhất. Hình thái chung là địch chiếm đô thị, vùng ven; ta giữ vững vùng rừng núi, nông thôn, một số thị tứ. Với chính sách “tiêu thổ” kháng chiến, cảnh giác “ba không”, việc đi lại giữa các vùng, tiểu vùng rất khó khăn, gian khổ, nguy hiểm; càng nan giải gấp bội khi muốn chuyển thông tin của Đảng và Chính phủ qua báo chí đến các vùng, chiến trường trọng điểm như Liên khu V, Nam Bộ... Trước tình hình ấy, theo nhà báo Lê Huyền Thông (Lê Chúc) kể lại (vào năm 1991), thì đồng chí Tố Hữu đã nêu vấn đề, thống nhất với Ban Biên tập Báo Nhân Dân, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng, định hình chủ trương: Cần có các phiên bản Báo Nhân Dân được biên tập, in, phát hành trực tiếp tại khu vực Nam Bộ và Liên khu V.

tl.jpg
Đồng chí Trường Chinh, Thép Mới và Hà Xuân Trường duyệt bản thảo đăng Báo Nhân Dân số đầu tiên, năm 1951. (Ảnh: Tư liệu)

2.Đến nay, nhiều ý kiến vẫn tranh luận phiên bản nào có trước. Đầu năm 1952, cả hai bản báo Nhân Dân Nam Bộ Nhân Dân Liên khu V đều đã ra đời, tuy không đều kỳ, nhưng khá ổn định, với tinh thần “tại chỗ và trực tiếp”, thống nhất tư tưởng và hành động với Nhân Dân (Trung ương) ở Chiến khu Việt Bắc. Từ đó cho đến tháng 7/1954 (khi có Hiệp định Gieneva), cả nước có ba tờ (bản) Báo Nhân Dân, chung trong “hệ sinh thái” Nhân Dân.

Bản Nhân Dân (Trung ương) tiếp tục xuất bản ở Chiến khu Việt Bắc, phát hành lan tỏa đến hết địa bàn Liên khu V. Phiên bản Nhân Dân Liên khu V in ở địa bàn vùng tự do Liên khu V, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (nay thuộc thành phố Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Khánh Hòa) di chuyển thường xuyên và máy in thường được cất giấu trên vùng đất Quảng Nam, Quảng Đà (cũ).

Phiên bản Nhân Dân Nam Bộ di chuyển điểm in tùy theo từng thời điểm, chủ yếu quanh các tỉnh thuộc vùng Đồng Tháp Mười. Điểm chung là cả ba phiên bản Nhân Dân này đều nhất quán về tư tưởng - chính trị, đối tượng hướng tới. Song, khác biệt cũng rất rõ. Khác biệt về nội dung phản ánh, nhu cầu - thời sự, khuôn khổ giữa hai phiên bản, tác giả - nhóm tác giả, văn phong và xu hướng trình bày.

Do phải làm báo trong điều kiện gian khổ, né tránh sự vây ráp của kẻ thù, giấy in báo thiếu, mực in thiếu, phải gùi cõng máy in cơ động thường xuyên, cả hai phiên bản Nhân Dân Liên khu VNhân Dân Nam Bộ đều phải in ty-pô thủ công (ở Nam Bộ đôi khi còn phải in thạch như thời xưa). Hầu hết tên tác giả, nhóm tác giả đều phải ký tắt, dùng bút danh, hoặc ghi tên cơ quan, tổ chức chung chung để bảo mật và giữ an toàn cho người viết. Chính những sự khác biệt này đã làm cho phiên bản Nhân Dân Liên khu VNhân Dân Nam Bộ chứa đựng những nét đặc sắc riêng biệt, đậm tính lịch sử.

Nếu Báo Nhân Dân (bản in ở Tuyên Quang) là Cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam do Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo xuất bản, nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, có sự giám sát trực tiếp của Ban Tuyên huấn Trung ương; thì Báo Nhân Dân Nam Bộ là Cơ quan tuyên truyền của Trung ương Đảng ở Nam Bộ, do Khu ủy Nam Bộ trực tiếp chỉ đạo xuất bản, triển khai thực hiện. Tương tự, Báo Nhân Dân Liên khu V là tờ báo chính trị của Trung ương Đảng tại Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, do Liên Khu ủy V trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai.

Xuyên suốt quá trình làm báo, cả hai phiên bản này đều do lực lượng tại chỗ thực hiện, nhiều khi kiêm luôn việc vận chuyển, phát hành báo. Những phiên bản ấy không chỉ phát hành ở Chiến khu, các tiểu vùng “cài răng lược” địch - ta; mà còn lọt vào cả các đô thị tạm chiếm, đến cả với số ít ngụy quân, ngụy quyền có tư tưởng dao động, ngả đầu về phía cách mạng. Đó là lý do vì sao năm 1989, tại Bệnh viện C (Đà Nẵng), cụ Trương Quang Giao (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi; nguyên Phó ban Thống nhất Trung ương) khẳng định với nhà thơ Hiếu Loan, nhà thơ Tú Sót và chúng tôi: “Không phải đợi đến thời chống đế quốc Mỹ xâm lược mới có chuyện nhiều giao liên hy sinh. Từ thời chống thực dân Pháp xâm lược, một số giao liên chuyển báo, công văn, thư mật của Liên Khu ủy cũng đã phải ngã xuống vì bom đạn của quân thù đấy!”.

phuong-bai-1-25.png

3.Về nội dung, Nhân Dân Nam Bộ có 5 chủ điểm chính, gồm Xã luận - Bình luận; chỉ đạo - định hướng và Nghị quyết hóa - giải thích Nghị quyết; tin bài - thời sự chiến trường; đấu tranh, phê phán tư tưởng, luận điệu sai trái; văn nghệ - thơ ca - bút ký. Tuy mức độ trực tiếp, trực diện, kết nối liên thông với Trung ương không kịp thời khi so với Nhân Dân Liên khu V; nhưng Nhân Dân Nam Bộ vẫn chuyển tải được nhiều bài, tin tức của Báo Nhân Dân (Trung ương; ở Việt Bắc). Nhiều bài chính luận, tổng kết, bình luận (với nhiều bút danh khác nhau) của các đồng chí lãnh đạo như Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Trần Bạch Đằng, Nguyễn Văn Nguyễn... từng đăng, trích đăng trên Nhân Dân Nam Bộ. Còn bắt gặp trên những trang báo ấy tên các tác giả như Lưu Quý Kỳ, Võ Văn Vân, Phan Văn Khỏe, Sáu Nam, Cửu Long,...

Nhân Dân Liên khu V cũng có 5 mảng đề tài tương tự như Nhân Dân Nam Bộ. Nhưng, ở mảng chính luận - chỉ đạo kháng chiến, việc diễn giải Nghị quyết, Chỉ thị, phân tích các yêu cầu (xuất phát từ Ban Tuyên huấn Trung ương), hoặc in lại một số bài từ Báo Nhân Dân (Trung ương) được chú ý hơn, tập trung vào nhiệm vụ kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự rất sát với thực tiễn, tình hình lúc đó ở Liên khu V. Điểm mạnh của Nhân Dân Liên khu V là đã dành lượng tin, bài đáng kể về xây dựng hậu phương kháng chiến. Hoặc đăng lại nguyên văn, hoặc chỉ trích đăng lại, nhưng đọc được trên Nhân Dân Liên khu V không ít bài của các tác giả lớn, cán bộ lãnh đạo như Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Võ Chí Công (Võ Toàn), Trần Huy Liệu,... Thời ấy, báo của Đảng mặc nhiên được xem như bộ phận của tổ chức Đảng; làm và viết báo không phải là “đặc quyền” riêng của các nhà báo được “chuyên nghiệp hóa”. Do vậy, trên Nhân Dân Liên khu V ghi đậm tên tuổi, tác phẩm của các đồng chí Phan Tứ (Lê Khâm), Hà Đăng (Đặng Ha), Lưu Quý Kỳ, Anh Đức và nhiều tác giả khác. Khó liệt kê đủ, nhưng nhìn chung là phong phú, đa dạng, bám sát “tinh thần” của Báo Nhân Dân (Trung ương), phù hợp và có giá trị cao ở chiến trường trọng điểm, khốc liệt Liên khu V.

p1-1615271483089.jpg
Sau thời gian tích cực chuẩn bị, đúng ngày 11/3/1951, Báo Nhân Dân ra đời.

4.Theo cụ Trần Tống (cán bộ lão thành cách mạng; nay đã được đặt tên đường ở thành phố Đà Nẵng) kể với chúng tôi vào năm 1990, thì các phiên bản Nhân Dân thời chống thực dân Pháp phần nhiều đều in khổ nhỏ (24 x 32 cm); mỗi số 2-4 trang trên giấy dó thường; số đặc biệt “chèn” thêm 1 tờ thành 6 trang. Với tờ Nhân Dân Liên khu V, người ký duyệt xuất bản số đầu là đồng chí Nguyễn Chí Thanh (lúc bấy giờ là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Liên Khu ủy V). Chủ nhiệm tờ báo này (giai đoạn đầu) là đồng chí Trần Tống, Thường vụ Liên Khu ủy, Trưởng ban Tuyên huấn Liên khu V. Sinh thời, nhà báo Đặng Minh Phương từng chia sẻ: “... Liên khu V là “xương sống” nối liền bắc - nam. Bao gồm các tỉnh ven biển miền trung là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và các tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk. Địa bàn rộng lớn, chiến trường trọng điểm, gian khổ và ác liệt. Làm báo khi ấy là vừa viết, vừa biên tập; vừa lo đánh giặc, vừa lo tăng gia sản xuất...”.

Các phiên bản Nhân Dân thời chống thực dân Pháp phần nhiều đều in khổ nhỏ (24 x 32 cm); mỗi số 2-4 trang trên giấy dó thường; số đặc biệt “chèn” thêm 1 tờ thành 6 trang.

Cụ Trần Tống (cán bộ lão thành cách mạng; nay đã được đặt tên đường ở thành phố Đà Nẵng)

Từng bước, chúng tôi dần hiểu ra, có phiên bản nhưng không hề có dị bản; có khác biệt nhưng nội tại vẫn thống nhất.

Năm tháng đã lùi xa, nhưng các phiên bản Nhân Dân giai đoạn 1952-1954 vẫn vẹn nguyên tính giá trị, để lại không ít kinh nghiệm quý cho những người làm báo hôm nay và mai sau...

Có thể bạn quan tâm