Vùng đất ấy hiện ra, bắt đầu là dòng sông lấp lóa trong nắng cùng với mầu xanh của những cánh đồng lúa xanh rờn trên nền phù sa cổ. Hơn 20 năm trước, lần đầu đặt chân đến Cát Tiên, tôi đã bàng hoàng trước vẻ đẹp còn lắm nguyên sơ của xứ sở giàu trầm tích văn hóa và truyền thống cách mạng này. Vượt qua những đèo những dốc, khi lên đến cổng trời, khi dầm mình trong thung lũng, khi xuyên giữa rừng già, khi trồi ra cùng dòng Đồng Nai chở nặng phù sa, trước khung cảnh ấy thật khó kìm nén cảm xúc. Một vùng đất chứa trong mình thẳm sâu những địa tầng ký ức. Ở Cát Tiên, có thể khám phá những buôn làng cổ xưa nhất ở vùng nam Tây Nguyên với hình ảnh những mái nhà sàn tre tranh, những bếp lửa suốt ngày đêm không tắt, những công cụ chế tác đơn sơ và nhất là nhân chủng đặc biệt của những người anh em Xtiêng, Mạ, Cơ Ho bản địa. Ở Cát Tiên, có thể thưởng thức câu hát jaljău mộc mạc; chiêm ngưỡng điệu dân vũ hoang dã với những thiếu nữ uyển chuyển ngực trần. Tiếng chiêng ở nơi này cất lên trong đêm rừng hình như còn giữ nét hồn nhiên, chưa bị thương mại hóa biến thành trò phô diễn. Ở Cát Tiên, có thể nghe rì rào âm ba dòng Đồng Nai kể chuyện cũ xứ sở và có thể đặt tay lên phế tích đền tháp uy nghi xuất lộ từ lòng đất mà ngẩn ngơ tìm cảm hứng lịch sử từ hàng ngàn năm trước...
Âm hưởng vùng nam Tây Nguyên. Ảnh: LÝ HOÀNG LONG
Theo lời của người già Xtiêng ở buôn Bù Bi Nao, cái tên Cát Tiên ra đời từ huyền thoại kể về bãi tắm của thiên tiên giáng trần thuở xa xưa. Cho đến ngày nay, dấu tích của bãi tắm tiên ấy vẫn tồn tại cùng với những bàu sen, bàu cá sấu, bàu cá lóc, bàu cá trắm, bãi chim và những giống quả, giống cây độc đáo, trong đó có giống lúa Base cao quá đầu người mà ở Việt Nam không nơi nào có. Tôi nhớ trong chuyến du thám Cát Tiên hơn 20 năm trước đã từng dừng chân trên đỉnh dốc Khỉ và làm bạn với những chú khỉ đu nhảy trên đầu người vào cả ban trưa. Đứng ở đỉnh dốc này có thể ngắm hai cột đá trắng trong khu di chỉ khảo cổ học Cát Tiên từ thung lũng bên dòng Đồng Nai và phóng tầm mắt ra một vùng núi đồi trải dài như bát úp; ngắm say sưa đỉnh núi Đá Mài, nơi lưu giữ những dấu tích cuối cùng của cuộc chiến tranh Chàm - Mạ trong lịch sử xa xưa.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Cát Tiên là địa danh nhỏ thuộc huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé cũ, vùng cửa ngõ của chiến khu D kiên cường, sườn phía đông của chiến trường B2. Năm 1982, lấy sông Đồng Nai làm ranh giới, nam Cát Tiên được quy hoạch thành rừng quốc gia thuộc tỉnh Đồng Nai. Tỉnh Lâm Đồng đã phát triển vùng đất thuộc địa giới của mình thành huyện mới Cát Tiên từ năm 1987. Cư dân huyện mới là những buôn làng dân tộc thiểu số - chủ nhân lâu đời nhất của vùng đất này, cùng với đồng bào các tỉnh miền trung, miền bắc đi xây quê mới và cả những người lính từng qua thời đạn bom nơi đây đã ở lại lập nghiệp giữa chiến trường xưa.
Hiếm có huyện cao nguyên nào như vùng đất này. Trên một không gian không lớn mà có đến hai địa chỉ nổi tiếng. Đó là Vườn quốc gia Cát Tiên và Di tích văn hóa - nghệ thuật quốc gia Cát Tiên. Ở Vườn quốc gia, rừng chiếm tới 93,1% diện tích, trong đó 54% là rừng tre nứa, còn lại là rừng lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao. Các nhà khoa học đã thống kê ở đây có 553 loài thuộc 38 chi và 118 họ thực vật bậc cao có mạch. Rừng Cát Tiên cũng có tới 144 loài cây lấy gỗ, 80 loài cây làm thuốc, 50 loài cây làm cảnh, 15 loài cây cho dầu nhựa, 31 loài cây ăn quả và 31 loài cây đặc sản khác. Hệ động vật cũng hết sức phong phú. Thuộc khu hệ động vật Nam Bộ, ở khu bảo tồn này có tới 44 loài thú thuộc tám bộ lớn, 200 loài chim và rất nhiều loài bò sát như trăn, rắn, ba ba, cá sấu... Điều đáng tiếc là những con tê giác một sừng đặc hữu cuối cùng mang tên Cát Tiên đã bị tuyệt chủng bởi bàn tay tàn bạo và lòng tham của những kẻ vô lại.
Giữa những cánh rừng nguyên sinh, Cát Tiên thuở xa xưa từng sống động trong lòng cư dân bản địa bằng những truyền thuyết lưu truyền nghìn đời bên hương vị lúa mẹ nồng nàn rượu cần. Trầm tích không chỉ là huyền thoại, từ năm 1985, các nhà khảo cổ học đã phát hiện, khảo sát, nghiên cứu và khai quật một quần thể di tích đồ sộ bên dòng Đồng Nai. Suốt chiều dài gần 20km, từ lòng đất Cát Tiên xuất lộ dần một quần thể kiến trúc đền đài hoành tráng và hàng nghìn hiện vật mang thông điệp của người xưa gửi lại. Mỗi hiện vật, mỗi thớ đất trong lòng Cát Tiên đều vang vọng tiếng quá khứ gọi về. Đó là những di sản vô giá. Di tích Cát Tiên thuộc phong cách nghệ thuật nào? Chủ nhân là ai? Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa vẫn đang cố gắng giải mã nhưng chưa có câu trả lời cuối cùng. Chỉ biết rằng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng đây là di tích lịch sử văn hóa quốc gia và bỏ nhiều công sức, kinh phí đầu tư cho công tác khảo sát, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị của nó. Điều đó lý giải vì sao một huyện nhỏ và nghèo như Cát Tiên luôn có sức hấp dẫn đặc biệt. Các vị giáo sư khả kính: Hà Văn Tấn, Hoàng Xuân Chinh, Trần Quốc Vượng, Phan Đăng Nhật, Tô Ngọc Thanh, Phạm Đức Dương... từng đến và gửi bao nhiêu tâm huyết vào đây. Có người trở đi trở lại nhiều lần để cố công lý giải những hoài nghi, những giả thiết, nhất là với di tích khảo cổ học Cát Tiên. Quần thể di tích cấp quốc gia ấy đã được phát hiện hơn 30 năm, đã có hàng nghìn bài nghiên cứu, hàng chục cuộc khai quật và hội thảo chuyên đề, nhưng chưa có những kết luận khoa học thỏa đáng. Lòng đất Cát Tiên còn chứa nhiều bí ẩn, một sớm một chiều chưa thể giải mã hết...
Giữa những cánh rừng đại ngàn vắng dấu chân người, giữa một không gian phế tích ngàn năm ngủ yên trong lòng đất, có một thời từng bị khuấy động bởi chiến tranh. Chiến tranh đã biến những cánh rừng cổ sinh tốt tươi trở thành căn cứ địa, khiến những người dân thiểu số bản địa hiền lành, hồn nhiên với rẫy nương suối thác trở thành chiến sĩ. Cát Tiên bị đạn bom của kẻ thù cày xới hủy diệt. Những câu chuyện kiên trung, bất khuất, thắm nghĩa đẫm tình quân dân thời chiến cũng hình thành trên con đường hành lang chiến lược bắc - nam anh dũng này. Vùng đất cổ bên dòng Đồng Nai một thời là đại bản doanh của khu Sáu anh hùng.
Ở nhiều vùng quê khác, chuyện chiến tranh gần như đã lùi về ký ức, nhưng với người dân Cát Tiên, vẫn còn tươi rói như vừa mới hôm qua. Cụ Điểu K’Khen, một cựu du kích của xã Tư (tên gọi thời chiến tranh chống Mỹ, thuộc K29, Phước Long cũ, nay là thôn 4, xã Phước Cát 2) đã vào tuổi bát tuần và có gần 50 năm tuổi Đảng, say sưa kể về những kỷ niệm ở quãng thời gian nửa thế kỷ trước. Đó là những tháng ngày cụ cùng C200 nhận nhiệm vụ của Trung ương cục miền nam mở đường đón đoàn B90 là những cán bộ cấp cao từ miền bắc trở về, khai thông đường chiến lược bắc - nam đi qua vùng đất Cát Tiên hôm nay. Trên con đường ấy đã in dấu chân các đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Trần Nam Trung, Mai Chí Thọ... trên hành trình về nam lãnh đạo các tầng lớp nhân dân kháng chiến.
Theo chuyện kể của cụ K’Khen, những năm 1960-1970 Cát Tiên là một trong những địa bàn ác liệt nhất của chiến trường miền nam và cũng là căn cứ nổi tiếng kiên trung, bất khuất. Đồng bào các dân tộc thiểu số cùng du kích và bộ đội chủ lực kề vai, sát cánh giáng cho quân thù những đòn chí mạng, bảo đảm sự an toàn và lớn mạnh của một vùng chiến khu rộng lớn. Nối chuyện với K’Khen, các cựu du kích Điểu Thị Hơn, Điểu K’Băm như sống lại một thời hào hùng qua câu chuyện về sự hợp lực của du kích các xã Ba, Tư, Năm, Sáu trong trận đánh ác liệt diễn ra nhiều ngày chống Mỹ - ngụy đổ bộ tại đồi Đăng Xa, trận đánh trả trực thăng vận trên núi Bờ Xa Lu Xiêng. Ở xã Đồng Nai Thượng, có một người con ưu tú của buôn làng Xtiêng là Điểu Thị Lôi, người từng được phong Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 2, được kết nạp Đảng từ năm 18 tuổi, từng là đại biểu Quốc hội và hiện tại vẫn tham gia công tác cơ sở. Ký ức của bà Lôi về những năm tháng cũ thật giàu ý nghĩa và vẫn vẹn nguyên giá trị.
Lãnh đạo huyện Cát Tiên và tỉnh Lâm Đồng cũng không quên lời nhắn nhủ của đồng chí Mai Chí Thọ trong một lần người chiến sĩ cách mạng về thăm chiến trường xưa: “Vùng đất này đã góp nhiều máu xương, công sức cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Không bao giờ được quên sự hy sinh của đồng bào Châu Mạ, Xtiêng, Cơ Ho...”. Ở vùng đất cổ thượng nguồn này, có những nóc nhà sàn đã cống hiến đến người cuối cùng cho sự bình yên của đất nước hôm nay; từng có những gia đình đóng góp cả đàn trâu, bò; có những dòng họ đã quyên toàn bộ tài sản quý giá như chiêng chóe, đồng la, đồ bạc, đồ vàng từ thời ông bà để lại giúp bộ đội cách mạng mua lương thực, thuốc men, súng đạn...
Lịch sử của một vùng quê là dòng ký ức xuyên suốt, không có thời nào bị ngắt quãng, bị lãng quên. Văn hóa, những hệ giá trị trường tồn được dựng nên không chỉ bởi những ứng xử nhân văn chuyển giao trao truyền qua từng thế hệ, mà có thể là cả bằng máu xương đổ xuống, bằng sự hy sinh của bao lớp người tranh đấu, giành giữ. Hôm nay trên vùng đất Cát Tiên, nơi in dấu nhiều địa tầng trầm tích, vùng chiến địa anh hùng thuở nào đang vang vọng những âm sắc mới. Trong từng thớ đá, tấc đất, trên ngọn núi cao hay dưới dòng sông sâu như vang vọng tiếng nói của quá khứ, của truyền thống cha ông hiện về. Người Cát Tiên hiểu rằng, họ đang thừa hưởng những tài sản vô giá từ lịch sử và thế giới tự nhiên ưu ái. Họ cũng luôn ý thức trong việc chung tay, góp sức bảo tồn và phát huy những giá trị ấy trong cuộc sống hôm nay.