Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN, quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Cơ chế này áp dụng đối với các nhiệm vụ hướng đến làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và tạo sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây là những hoạt động có độ phức tạp, rủi ro cao, đòi hỏi nhân lực chất lượng cao và khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, chuyển giao, thương mại hóa.
Mở trần thù lao để thu hút nhân lực chất lượng cao
Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư là đổi mới cách xác định thù lao đối với người tham gia nhiệm vụ.
Mức chi được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra, thay vì chủ yếu căn cứ chức danh hành chính hoặc ngày công.
Theo đó, Tổng công trình sư có mức thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng. Thành viên chính có thể nhận tối đa từ 100 đến 120 triệu đồng; thành viên trực tiếp thực hiện từ 70 đến 90 triệu đồng; kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng.
Đây là mức trần phục vụ việc lập, thẩm định và phê duyệt dự toán. Thù lao thực tế của từng cá nhân được tính theo vị trí công việc, số tháng và tỷ lệ thời gian tham gia nhiệm vụ.
Cơ chế này được xây dựng trên cơ sở tham chiếu mô hình nhân lực nghiên cứu của A*STAR, Singapore, sau đó điều chỉnh theo sức mua tương đương và yêu cầu cạnh tranh trong thu hút nhân lực công nghệ trình độ cao.
Thông tư cũng mở rộng khả năng thuê chuyên gia trong và ngoài nước đối với những lĩnh vực Việt Nam còn thiếu nhân lực hoặc cần nhanh chóng tiếp cận tri thức, công nghệ quốc tế.
Chi phí thuê chuyên gia được xác định dựa trên yêu cầu chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, giá thị trường và thông lệ quốc tế. Mức thuê thông thường không vượt quá thù lao của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có thể nhận tối đa 300 triệu đồng/tháng nếu được thuyết minh và phê duyệt theo quy định.
Cấp kinh phí theo kết quả nghiên cứu
Một thay đổi có tính nền tảng là kinh phí được quản lý theo từng gói công việc và mốc đánh giá, thay vì tập trung vào thủ tục.
Mỗi gói công việc phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Kết quả tại từng mốc là căn cứ thanh toán, quyết toán và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.
Mốc đánh giá có thể trở thành điểm quyết định “Go/No-Go”, tức tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng một phương án căn cứ kết quả thực tế. Những hướng nghiên cứu không còn phù hợp có thể kết thúc sớm, qua đó tập trung nguồn lực cho các giải pháp có triển vọng hơn.
Tổ chức thực hiện được tăng quyền tự chủ, đồng thời phải thực hiện trách nhiệm giải trình và chịu sự hậu kiểm.
Chấp nhận rủi ro có kiểm soát
Phát triển công nghệ chiến lược luôn chứa đựng rủi ro và không phải phương án nghiên cứu nào cũng thành công. Vì vậy, Thông tư cho phép bố trí kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự toán từ ngân sách nhà nước để xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Đối với rủi ro thuộc trường hợp được pháp luật chấp nhận, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi và quy định. Kinh phí sử dụng sai mục đích phải được hoàn trả; hành vi gian lận hoặc cố ý vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định.
Cơ chế mới cũng khuyến khích Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư. Nguồn lực đối ứng có thể gồm tiền, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, hạ tầng thử nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm và nhân lực.
Tổ chức chủ trì được chủ động hơn trong bố trí nhân lực, huy động nguồn lực, lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp và điều chỉnh kinh phí trong phạm vi cho phép. Đổi lại, đơn vị phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ và hiệu quả sử dụng ngân sách.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN hướng nguồn lực công vào bốn trọng tâm: đầu tư cho con người; quản lý theo kết quả; trao quyền gắn với trách nhiệm; chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Đích đến không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, mà còn làm chủ công nghệ, tạo sản phẩm và thúc đẩy chuyển giao, thương mại.