Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Cung và cầu vốn xanh vẫn chưa gặp nhau

Nhiều chuyên gia cho rằng tín dụng xanh đang trở thành một kênh vốn quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tuy nhiên, để dòng vốn này đến được doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, vẫn còn nhiều rào cản cần tháo gỡ.

Theo Tiến sĩ Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), không thể dồn hết trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng trong câu chuyện chuyển đổi xanh. Đây là trách nhiệm của cả quốc gia. Một quốc gia không thể chuyển đổi xanh thành công nếu khu vực tư nhân không cùng chuyển động, đồng thời cần có một hệ thống chính sách đồng bộ để hỗ trợ quá trình này.

Ông Minh cho rằng, doanh nghiệp chỉ thực sự chuyển đổi khi nhìn thấy cả động lực và áp lực từ thị trường. Về động lực, doanh nghiệp cần biết sản phẩm xanh có bán được tốt hơn hay không, người tiêu dùng có sẵn sàng chi trả hay không, các đơn hàng xanh có đủ lớn để họ mạnh dạn đầu tư hay không. Nhà nước có thể hỗ trợ quá trình này thông qua mua sắm công, ưu tiên sản phẩm xanh, tạo ra những đơn hàng đầu tiên để doanh nghiệp có cơ sở đầu tư và hoàn thiện sản phẩm.

img-4172.jpg
Tiến sĩ Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV).

Bên cạnh đó, thị trường tín chỉ carbon cũng cần đi vào hoạt động thực chất. Khi doanh nghiệp chuyển đổi và tạo ra lượng tín chỉ carbon dư thừa, đây có thể trở thành nguồn lực bổ sung giúp doanh nghiệp có thêm tài chính để tái đầu tư cho mô hình sản xuất, kinh doanh.

Về áp lực, theo Tiến sĩ Bùi Thanh Minh, các yêu cầu từ thị trường quốc tế đang ngày càng rõ hơn. Những cơ chế liên quan đến điều chỉnh biên giới carbon, thẩm định chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn lao động, sản xuất bền vững đang tạo sức ép lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Nếu không chuyển đổi, doanh nghiệp có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng hoặc mất lợi thế cạnh tranh.

Tuy nhiên, để chuyển đổi, doanh nghiệp cần vốn, công nghệ, nhân lực và dữ liệu. Đây lại là những điểm yếu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo đại diện Ban IV, gần 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa không có lịch sử tiếp cận tín dụng. Trong khi đó, tín dụng xanh còn đi kèm các yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn môi trường, quy trình, dữ liệu, mô hình quản trị và báo cáo ESG.

Điều này tạo ra một “khó khăn kép”. Doanh nghiệp muốn tiếp cận vốn xanh thì phải thay đổi mô hình kinh doanh, chuẩn hóa quy trình, xây dựng dữ liệu. Nhưng để làm được những việc đó, họ lại cần vốn đầu tư ban đầu.

Tiến sĩ Bùi Thanh Minh cho rằng, các ngân hàng hiện nay có nhu cầu cho vay tín dụng xanh, doanh nghiệp cũng có nhu cầu vay vốn để chuyển đổi. Nhưng cung và cầu chưa gặp nhau do còn thiếu cơ chế kết nối, thiếu dữ liệu, thiếu tài sản bảo đảm phù hợp và thiếu các công cụ chia sẻ rủi ro.

Ông dẫn thí dụ một số doanh nghiệp nuôi biển ở Quảng Ninh có mô hình sản xuất tốt, nhưng khi tiếp cận ngân hàng vẫn gặp vướng ở câu hỏi tài sản thế chấp. Tài sản của họ nằm trên biển, trong khi quyền sử dụng mặt biển và không gian biển chưa thật sự rõ ràng. Mô hình này cũng chịu rủi ro lớn từ bão, thiên tai, nên ngân hàng khó có căn cứ để cho vay.

Một số doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn quốc tế thông qua các quỹ hoặc ngân hàng nước ngoài, nhưng lãi suất lên tới 16-18% khiến việc triển khai gần như không hiệu quả. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài vốn được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi hơn.

Tiến sĩ Bùi Thanh Minh nhận định, điều đáng lo hiện nay không phải là thiếu chính sách, mà là làm thế nào để chính sách được thực thi hiệu quả, giúp doanh nghiệp thật sự tiếp cận được nguồn vốn.

Cần dữ liệu, tiêu chí rõ và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp

Đại diện tổ chức tín dụng, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, đến cuối năm 2025, Agribank dẫn đầu hệ thống về số lượng khách hàng được cấp tín dụng thuộc lĩnh vực xanh với gần 39.000 khách hàng. Tổng dư nợ tín dụng xanh đạt gần 28.000 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, lâm nghiệp bền vững và nông nghiệp xanh.

Agribank đã triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn phục vụ phát triển bền vững, trong đó có chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch với quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng; chương trình tín dụng thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng.

img-4173.jpg
Ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank.

Ngân hàng này cũng mở rộng tín dụng xanh tới khách hàng cá nhân thông qua các chương trình cho vay sản phẩm OCOP, cho vay mua xe điện, chương trình tín dụng xanh quy mô 10.000 tỷ đồng và các sản phẩm tín dụng phục vụ cơ giới hóa, nâng cao giá trị nông nghiệp.

Tuy nhiên, đại diện Agribank cũng cho biết quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn. Về cơ chế, hiện chưa có hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia và danh mục dự án xanh được chuẩn hóa, công khai trên cổng thông tin điện tử để làm cơ sở thu thập dữ liệu, đánh giá dự án theo chuẩn ESG. Về phía khách hàng, phần lớn chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, năng lực lập báo cáo ESG còn yếu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm.

Bên cạnh đó, các dự án xanh thường cần nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp, trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn về môi trường và xã hội để triển khai các sản phẩm tín dụng xanh vẫn còn thiếu. Đây là những rào cản khiến việc mở rộng tín dụng xanh chưa thể diễn ra nhanh như kỳ vọng.

Từ thực tế này, Agribank đề xuất cần sớm hoàn thiện hệ thống quy định thống nhất về tín dụng xanh, trong đó trọng tâm là hệ thống ngành kinh tế xanh, đồng thời có thêm cơ chế hỗ trợ khách hàng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ doanh nghiệp lập hồ sơ môi trường, báo cáo ESG, hoàn thiện các tiêu chuẩn hữu cơ, tiêu chuẩn tuần hoàn và chứng nhận quốc tế.

Là một doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Bùi Khánh Dũng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Musa Pacta cho rằng, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu, nhưng người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp vẫn rất dễ bị tổn thương trước biến động thời tiết, thị trường và chi phí sản xuất.

Theo ông Dũng, hiện cả nước có hơn 23.500 hợp tác xã nông nghiệp và khoảng 10,5 triệu hộ nông dân, nhưng số đơn vị từng tiếp cận bảo hiểm nông nghiệp còn rất hạn chế. Trong khi đó, tín dụng xanh vẫn là khái niệm còn xa với phần lớn doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp, nhất là các đơn vị quy mô nhỏ và vừa.

Ông đề xuất cần xây dựng chính sách bảo hiểm nông nghiệp thực chất, phù hợp với các loại hình sản xuất từ trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đến hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến nông sản. Khi có cơ chế bảo hiểm hiệu quả, người nông dân và doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn trong đầu tư, không rơi vào tình trạng mất trắng khi gặp thiên tai, dịch bệnh hoặc rủi ro bất khả kháng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống tiêu chí xanh cụ thể, rõ ràng và dễ áp dụng. Các tiêu chí nên được lượng hóa minh bạch để doanh nghiệp, hợp tác xã biết mình đang ở mức nào, cần cải thiện nội dung gì và có thể tiếp cận chính sách hỗ trợ ra sao.

Theo ông Dũng, nếu hình thành được cơ chế “luồng xanh” với các ưu đãi cụ thể về lãi suất, tỷ lệ tín chấp, hạn mức tín dụng và các chính sách hỗ trợ khác, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân sẽ có thêm động lực tham gia các mô hình sản xuất bền vững.

Có thể thấy, tín dụng xanh đang đứng trước yêu cầu chuyển từ giai đoạn mở rộng quy mô sang giai đoạn nâng cao hiệu quả thực thi. Chính sách hỗ trợ lãi suất, danh mục phân loại xanh hay các chương trình tín dụng chỉ có thể phát huy tác dụng khi doanh nghiệp hiểu, đủ năng lực chuẩn bị hồ sơ và có dữ liệu để chứng minh dự án đáp ứng tiêu chí xanh.

Vì vậy, cùng với hoàn thiện chính sách tín dụng, cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ đồng bộ cho doanh nghiệp, gồm dữ liệu số, tiêu chí xanh rõ ràng, tư vấn kỹ thuật, thị trường tín chỉ carbon, bảo hiểm rủi ro và các cơ chế tài chính phù hợp. Khi những điều kiện này được kết nối, dòng vốn xanh mới có thể đến gần hơn với doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có thể bạn quan tâm