Chùa Song Tử Tây là một trong chín ngôi chùa được xây dựng trên các đảo lớn của quần đảo Trường Sa như Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Trường Sa Đông, Sơn Ca, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Nam Yết, Đá Tây, Phan Vinh, tạo nên một hệ thống chùa trên đảo xa độc đáo.
Có một đặc điểm nhận diện rất dễ nhận ra nằm ngay trong danh tính của những ngôi chùa này: Tên của đảo cũng chính là tên của chùa, không có tên chữ mỹ miều như các chùa trong đất liền như Phúc Khánh tự, Pháp Vân tự... Chỉ đơn thuần là chùa Song Tử Tây, mộc mạc và thuần Việt. Đó cũng là cách ngôi chùa nhận diện chủ quyền của mình tại vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Mất hai ngày để hoàn thành hải trình hơn 300 hải lý từ quân cảng Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) tới đây, sau khi đón nhận sự đón tiếp nồng hậu của lực lượng chiến sĩ thuộc Quân chủng Hải quân (Lữ đoàn 146, Vùng 4) và người dân trên đảo, những bước chân của tôi liền men theo tiếng chuông chùa rung lên đón khách, để tới mái chùa hồn Việt từng mộng tưởng.
Chùa Song Tử Tây quay mặt ra biển, chung quanh xanh ngắt tán lá của những cây phong ba, bàng vuông quen đánh bạn với nắng gió, và hơi thở mặn mòi của biển cả, lại chịu hạn tốt, thay cho tùng, thông, trúc, bồ đề... của các chùa trong đất liền. Theo sách “Biên niên sử phát triển Phật giáo Trường Sa” (NXB Tôn giáo, 2014), chùa Song Tử Tây được xây dựng trên nền tảng của một miếu thờ thần biển vốn đã tồn tại từ rất lâu. Ngôi chùa đã được trùng tu toàn diện vào năm 2009 để có diện mạo như ngày nay.
Từ xa xưa, khi ra khơi đánh bắt cá, ngư dân thường ghé lại đảo này tránh bão và thực hiện các nghi lễ cúng bái tại ngôi miếu để cầu mong thời tiết thuận hòa, sóng yên bể lặng, đánh bắt được nhiều cá tôm và gặp bình an trong suốt chuyến hải trình. Chính họ đã đem tượng Phật theo trên thuyền đánh cá, và rồi an vị tượng Phật tại trú xứ này, để có được một miền tâm thức che chở trong suốt hành trình vạn dặm giữa mênh mông sóng nước. Và giờ, chùa Song Tử Tây tiếp tục sứ mệnh phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân trên đảo.
Chùa Song Tử Tây được xây dựng vững chắc với chất liệu có khả năng chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt ở vùng biển đảo với hơi muối đậm đặc. Thiết kế của chùa theo lối kiến trúc của Phật giáo Bắc tông Việt Nam, bao gồm các hạng mục quan trọng như tam quan, chính điện, gác chuông và sân chùa.
Các tượng Phật trong chùa được đúc bằng đồng, còn các bức đại tự, hoành phi, câu đối của chùa được viết bằng chữ quốc ngữ nhằm vừa giúp mọi người đọc hiểu dễ dàng nội dung, vừa duy trì bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong chùa có tam bảo thờ Phật và ban thờ các anh hùng liệt sĩ đã vị quốc vong thân để giữ vững chủ quyền biển đảo trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam.
Ngôi chùa có một vị trí đặc biệt trong tâm thức của người Việt từ nghìn đời. Nhà thơ Nguyễn Bính dường như đã nói hộ tâm thức đó, bằng một tiếng than “chao ôi” đầy quặn xé trong bài thơ “Quê tôi”: “Mai này tôi bỏ quê tôi/ Bỏ giăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa”...
Song, đứng trước đại dương mênh mông đang lan tỏa tiếng chuông từ bi trên những ngọn sóng, trong sâu thẳm trái tim của tôi lại ngân lên nguồn cảm xúc vừa tự hào về biển đảo quê hương, vừa gắn bó thiết tha với mảnh đất xa xôi của Tổ quốc, dẫu mới đặt chân đến lần đầu. Đó hẳn là nhờ mạch ký ức dân tộc được kết nối và khơi dậy bởi những hồi chuông.