Bức xúc từ các làng nghề
Từ lâu, làng Khoai (tức thôn Minh Khai), thị trấn Như Quỳnh (Văn Lâm, Hưng Yên) nổi danh khắp vùng vì có nghề sản xuất, tái chế nhựa, được ví là "làng tỷ phú", nhưng cũng là nơi ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cả làng có 750 hộ thì có đến 500 hộ làm nghề này, với doanh thu lên tới hàng chục tỷ đồng/năm. Do khó khăn về mặt bằng sản xuất, người dân nơi đây tận dụng cả diện tích nhà, bếp, sân, vườn, đường làng, ngõ xóm để làm mặt bằng sản xuất. Nước thải chưa được xử lý, cứ thế chảy ra các sông quanh vùng. Anh Phùng Hữu Tài, chủ một cơ sở sản xuất, tái chế nhựa trong làng, bức xúc: "Biết là ô nhiễm môi trường, nhưng chúng tôi tìm đâu ra mặt bằng sản xuất. Vì nghề này cần rất nhiều diện tích và nước. Chúng tôi đã "chung sống" với ô nhiễm môi trường từ lâu rồi, rất mong các cấp, các ngành sớm giúp làng nghề thoát cảnh này". Làng Phan Bôi, xã Dị Sử (Mỹ Hào, Hưng Yên) giàu lên nhờ nghề tái chế phế thải. Hơn 400 hộ dân nơi này rất bức xúc về tình trạng ô nhiễm môi trường, những đống phế thải chất la liệt bên quốc lộ 5 do thiếu mặt bằng. Người dân kiến nghị các cấp chính quyền có giải pháp tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất, nhưng đến nay vẫn bế tắc.
Nghề thuộc da ở Liêu Xá (Mỹ Hào, Hưng Yên) vốn là nghề truyền thống, giúp nhiều hộ dân trong xã có điều kiện làm giàu. Chủ tịch UBND xã Lưu Ðình Hỷ cho biết: Người dân làm nghề gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất. Có thời điểm ô nhiễm môi trường đến mức báo động, do nghề này đòi hỏi phải ngâm, thuộc da trâu, bò, lợn. Anh Vũ Hữu Tuấn, chủ cơ sở thuộc da tại thôn Liêu Thượng, tiếc nuối: Hiện nay, tôi được một số bạn hàng ở Trung Quốc muốn liên kết sản xuất, có nhu cầu thuê từ 3.000 đến 5.000 m2 đất để xây dựng nhà xưởng. Nhưng ở trong làng này kiếm đâu ra đất, còn đi nơi khác thuê đất thì họ lại không muốn.
Nghề mây, tre đan mới hồi sinh ở vùng quê Ðình Cao (Phù Cừ) và Ngọc Thanh (Kim Ðộng) được vài năm nay. Nhờ có nghề truyền thống này mà người dân có thêm việc làm và thu nhập trong những ngày nông nhàn. Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Chuốc cho hay: "Ban đầu, xã mượn nhà văn hóa thôn Duyên Linh để đào tạo nghề. Nhưng khi nghề này phát triển mạnh, xã thành lập HTX mây, tre đan, thì nhu cầu mặt bằng rất lớn. Một số khâu như tẩm, sấy nguyên liệu, sản phẩm cần có khu sản xuất cách biệt, tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe mọi người". Phó Chủ tịch UBND xã Tạ Quang Tuấn kiến nghị: Ðã đến lúc các cấp, các ngành tỉnh Hưng Yên sớm xây dựng KCNLN để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường và đáp ứng nhu cầu mặt bằng sản xuất của các hộ dân làm nghề truyền thống. Có như vậy, làng nghề mới phát triển bền vững, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân nông thôn.
Những khó khăn vướng mắc
| |
Phong trào phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở Hưng Yên những năm qua mang lại hiệu quả cao và thiết thực, hơn 40 nghìn lao động nông thôn trong toàn tỉnh đã có việc làm, thu nhập ổn định. Năm 2006, giá trị sản xuất tiểu, thủ công nghiệp của tỉnh đạt hơn một nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 9% tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Từ năm 2002 đến năm 2004, UBND tỉnh đã phê duyệt tám dự án xây dựng các KCNLN: Minh Khai (Văn Lâm), với diện tích 9,23 ha; Xuân Quan (Văn Giang) hơn 18 ha; Liêu Xá (Yên Mỹ) 4,11 ha; An Tảo (thị xã Hưng Yên) ba ha; Ðình Cao (Phù Cừ) gần 2,5 ha; Ngọc Thanh (Kim Ðộng) hơn 10 ha; Thủ Sĩ (Tiên Lữ) gần 22 ha; Liên Khê (Khoái Châu) hơn 14,5 ha. Mục đích của các dự án này nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc về tình trạng ô nhiễm môi trường, nhu cầu mặt bằng sản xuất tại các làng nghề, tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp nông thôn phát triển.
Chúng tôi về huyện Văn Lâm để tìm hiểu tình hình triển khai dự án xây dựng KCNLN sản xuất, tái chế nhựa Minh Khai. Ðây là dự án được UBND tỉnh phê duyệt sớm, có tiến độ xây dựng nhanh nhất trong tám dự án xây dựng các KCNLN. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, anh Nguyễn Minh Thúy (Phòng Kinh tế, UBND huyện Văn Lâm), cho biết: Dự án này được UBND tỉnh phê duyệt từ ngày 27-12-2002, với tổng vốn đầu tư dự kiến 16 tỷ 610 triệu đồng, khi dự án này hoàn thành sẽ đáp ứng 30% số hộ làm nghề tại địa phương. Nhưng do gặp nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành, đơn vị thi công, cho nên tiến độ triển khai dự án chậm. Ðến nay, đơn vị thi công dự án (Công ty cổ phần cơ khí xây dựng 18 - COMA 18) mới hoàn thành một số hạng mục như xây dựng nhà quản lý điều hành, hệ thống thoát nước mặt, hệ thống đường nội bộ. Dự án này có hai chủ đầu tư: Sở Công nghiệp lập dự án thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, UBND huyện làm chủ đầu tư giai đoạn thi công. Ban quản lý dự án đã tiến hành khảo sát nhu cầu của các hộ dân, có 125 hộ đăng ký thuê đất, nộp tiền đặt cọc đợt một được hơn chín tỷ đồng. Theo anh Nguyễn Ðình Anh (Công ty COMA 18), tiến độ triển khai dự án chậm do nhiều nguyên nhân, trong đó do khâu thiết kế dự án chưa hợp lý. Cho đến nay, UBND tỉnh vẫn chưa phê duyệt hạng mục phòng cháy, chữa cháy (PCCC), điện, nước sinh hoạt. Những hạng mục này thuộc về nhà thầu khác. Anh Phùng Hữu Tài, chủ cơ sở sản xuất, tái chế nhựa Minh Khai, nói: "Gia đình tôi đăng ký thuê 500 m2 đất thuộc KCNLN. Ban quản lý dự án đã thu tiền đặt cọc đợt một là 100 triệu đồng, hứa đến hết năm 2005 sẽ giao mặt bằng, nhưng đến nay gia đình tôi vẫn chưa được nhận mặt bằng sản xuất. Nhà thầu thi công cầm chừng, trong khi tiền bỏ ra nằm đấy.
Tại các KCNLN khác tiến độ triển khai còn chậm hơn. KCNLN An Tảo (thị xã Hưng Yên) đến nay đã san lấp xong mặt bằng, đang tiến hành thi công đường nội bộ và hệ thống thoát nước. Do số hộ đăng ký vào KCNLN này ít, UBND tỉnh điều chỉnh quy hoạch từ đất dùng cho sản xuất, kinh doanh sang xây dựng khu trung tâm dịch vụ thương mại và đô thị đại học thị xã Hưng Yên. KCNLN Liên Khê (Khoái Châu) đã xây dựng xong nhà điều hành và hai nhà xưởng. KCNLN Ðình Cao (Phù Cừ) đã đền bù, giải phóng và san lấp mặt bằng, cho HTX mây, tre đan Ðình Cao thuê mười nghìn m2. KCNLN Ngọc Thanh (Kim Ðộng) chưa tìm được địa điểm xây dựng. KCNLN Thủ Sĩ (Tiên Lữ) chỉ mới thi công xong đường vào khu công nghiệp, chưa giải phóng mặt bằng. Như vậy, cho đến nay, tám dự án KCNLN ở Hưng Yên dù đã phê duyệt, quy hoạch sớm nhưng tiến độ triển khai quá chậm.
Lý giải về tình trạng này, Giám đốc Sở Công nghiệp tỉnh Hưng Yên Phạm Xuân Trường cho biết: Trong quá trình triển khai các dự án gặp nhiều vướng mắc như giải phóng mặt bằng chậm; sự phối hợp các sở, ngành tham gia giải quyết các vướng mắc phát sinh chưa kịp thời; chất lượng lập dự án thấp, không sát thực tế nhu cầu mặt bằng ở địa phương; một số dự án thực hiện kéo dài vì vậy tổng dự toán phát sinh làm tăng vốn đầu tư, như các KCNLN Minh Khai, An Tảo, Liên Khê. Việc lập dự án đầu tư chưa làm kỹ các bước điều tra, khảo sát nhu cầu về mặt bằng, về khả năng tài chính của các hộ, cơ sở sản xuất, dẫn đến chất lượng lập dự án thấp... Trước thực trạng nói trên, tỉnh Hưng Yên cần sớm có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án công nghiệp làng nghề.