Cũng từ đó, cư dân các vùng chân núi và trung du đổ về khai phá, lập nên các xóm làng trên những gò đồi và doi đất ven sông của Hà Nội. Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi và đặc biệt do vị trí trung tâm của đất nước thuở xưa - vị trí đầu mối giao thông vừa quy tụ vừa tỏa rộng của các dòng sông - vùng Hà Nội sớm biến thành một địa bàn cư dân trù mật rồi vươn lên thành Thủ đô của đất nước.
Trải qua các giai đoạn Cổ Loa thời An Dương Vương, Vạn Xuân thời Lý Nam Ðế, Tống Bình - Ðại La thời thuộc Tùy - Ðường, Ðại La những năm đầu của chính quyền độc lập họ Khúc, họ Dương. Tới năm 1010, vùng Hà Nội tiến lên vị trí Kinh thành của nước Ðại Việt thời Lý, Trần, Lê. Từ đó, qua các tên gọi Thăng Long, Ðông Ðô, Ðông Kinh, Kẻ Chợ, Hà Nội, vùng Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của cả nước và trong thời gian ngắn mất vị trí Kinh đô thời Tây Sơn và nhà Nguyễn thì Hà Nội vẫn là trung tâm văn hóa, kinh tế lớn nhất và tiêu biểu của đất nước. Với chiều sâu lịch sử đó, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Nét nổi bật nhất trong cảnh quan thiên nhiên của Thăng Long - Hà Nội xưa là địa hình bằng phẳng, nhiều sông hồ.
Sông Hồng xưa gọi là sông Nhĩ Hà (sau gọi chệch là sông Nhị), có lúc gọi là sông Lô, sông Phú Lương bao quanh hai mặt bắc và đông sông Tô Lịch có hai nhánh, một nhánh chảy qua mặt bắc rồi đổ vào sông Hồng, một nhánh ôm lấy mặt tây rồi đổ vào sông Nhuệ, sông Kim Ngưu tách ra từ Sông Tô, bọc lấy mặt nam, ba dòng sông đó được chọn làm giới hạn và cũng là những con hào tự nhiên của vòng thành ngoài cùng được gọi là La Thành. Phía trong và ngoài vòng thành đó là một loạt các ao hồ, đầm lầy như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Ngọc Khánh, Giảng Võ, hồ Thủ Lệ và các ao đầm vùng Ngọc Hà, Bách Thảo, hồ Văn Chương, hồ Hoàn Kiếm, hồ Thiền Quang, Bảy Mẫu... Những bản đồ cổ đời Lê, đời Nguyễn và các tư liệu địa lý học, lịch sử cho biết: Ngày xưa ao hồ vùng này còn nhiều và rộng lớn hơn ngày nay. Thí dụ, hồ Thủ Lệ và các ao đầm vùng Ngọc Hà, Bách Thảo xưa ăn liền với nhau và lan rộng cả vùng phía tây quận Ba Ðình, tạo thành một hồ lớn mang tên hồ Hải Tri với hàm ý là một hồ rộng mênh mông như biển cả. Hồ Hoàn Kiếm xưa gọi là hồ Tả Vọng và ăn thông với sông Hồng. Các hồ Văn Chương, Bảy Mẫu xưa cũng nằm trong một vùng hồ nước lớn gọi là Ðại Hồ... Những hồ ao của Hà Nội được tạo nên hoặc do sự đổi dòng của sông Hồng hoặc do những ao đầm tự nhiên mà hệ thống đê sông và thành lũy do con người dựng lên đã làm cho quá trình bồi tụ tự nhiên bị ngăn chặn lại.
Có thể gọi Thăng Long - Hà Nội xưa là một thành phố sông hồ. Ðặc trưng bao quát để lại dấu ấn sâu đậm của nó trên toàn bộ diện mạo của Thủ đô và quy định những đặc điểm thẩm mỹ môi trường của Hà Nội truyền thống.
Khi quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, nhằm "mưu toàn nghiệp lớn, tính kế cho con cháu muôn vạn đời", Lý Thái Tổ đã nhận thức và đánh giá đúng vị trí vùng này "ở vào nơi trung tâm của đất nước", "Chính giữa Nam, Bắc, Ðông, Tây", là "chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương" với "địa hình thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng" "muôn vật phong phú tốt tươi", "Xem khắp nước Việt ta chỉ nơi này thắng địa" (Chiếu dời đô).
Tất cả quy hoạch của Thăng Long - Hà Nội xưa cho đến việc xây dựng thành lũy, chùa tháp, điện miếu, các kiến trúc cung đình và dân gian đều biểu thị một dụng ý quán triệt của ông cha là vừa thích nghi, tận dụng triệt để những điều kiện thiên nhiên có sẵn, vừa tô điểm và tôn tạo thêm bằng những công trình nhân tạo bảo đảm sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
Thành Thăng Long được xây dựng từ đời Lý và tu bổ mở rộng qua đời Trần, đời Lê, mang cấu trúc ba vòng thành: Cấm Thành dành cho Hoàng gia, Hoàng Thành bảo vệ các cơ quan của triều đình, Trung ương và ngoài cùng là La Thành bao quanh khu dân thường. Ðó là cấu trúc tam trùng thành quách, trong thành ngoài thị. Riêng Cấm Thành xây dựng theo hình dáng cân xứng, còn hai vòng thành ngoài uốn lượn tự do theo địa hình sông hồ và các gò đất có sẵn. La Thành được giới hạn bởi ba dòng sông Hồng, Tô Lịch và Kim Ngưu, biến sông thành hào tự nhiên và thành vừa giữ chức năng thành lũy phòng vệ, vừa là đê ngăn ngập lụt. Ngày này, nhân dân ta quen gọi là đường Ðê La Thành với ý nghĩa kết hợp đường giao thông với đê và thành. Ðấy cũng là đặc điểm chung của nhiều thành lũy cổ nước ta chứng tỏ ý thức tận dụng địa hình thiên nhiên và tính thiết thực, tính hiệu quả nhiều chức năng trong quan điểm kiến trúc và thẩm mỹ của tổ tiên ta.
Ngoài Hoàng Thành, Thăng Long xưa có hai trung tâm văn hóa quan trọng. Ðó là khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, là trung tâm giáo dục cao cấp, đào tạo nhân tài văn hóa và khu Giảng Võ, trung tâm huấn luyện, thao diễn quân sự và đào tạo nhân tài quân sự.
Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám đặt ở phía nam Hoàng Thành, trên một địa hình bằng phẳng, nhiều ao hồ và rừng cây yên tĩnh bao quanh. Chính tại đây, từ đời Lý, đến hết đời Lê đã mở 149 kỳ thi Hội, lấy đỗ 2.413 tiến sĩ, trong lúc trung tâm Phú Xuân Huế đời Nguyễn chỉ mở được 38 kỳ thi Hội, lấy đỗ 558 tiến sĩ.
Khu Giảng Võ đặt ở phía tây Hoàng Thành theo quan niệm "Tả văn hữu võ", trung tâm này được hình thành từ đời Lý, Trần và đạt đến quy mô to lớn nhất vào đời Lê, bao gồm cả vùng đất phía tây Kinh thành với những kiến trúc như đình Giảng Võ, điện Giảng Võ, Khán Ðài... và những hồ nước rộng để tập quân thủy, những bãi đất bằng để thao diễn quân bộ, quân kỵ, quân tượng. Vào thời Lê Trịnh, khu thao diễn quân sự chuyển về vùng giữa hồ Hoàn Kiếm và bờ sông Hồng, rồi từ năm 1724 trường thi võ cũng chuyển từ Giảng Võ về Ðống Ða. Tuy có những chuyển dịch như vậy, nhưng nói chung khu huấn luyện và đào tạo võ quan đều thiết lập trên địa bàn rộng rãi với những địa hình phù hợp với yêu cầu quân sự.
Phố phường của Thăng Long - Hà Nội xưa cũng dần dần hình thành một quy hoạch kinh tế hợp lý trên cơ sở thích nghi và tận dụng những điều kiện tự nhiên phù hợp.
Một đặc điểm của Thăng Long - Hà Nội xưa cũng như các đô thị trung đại của Việt Nam và phương Ðông nói chung là thành thị không hoàn toàn tách rời và đối lập với nông thôn. Ngay trong khu vực Kinh thành cũng có một số xóm làng nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với vòng đai nông thôn rộng lớn bao quanh. Nhưng do yêu cầu của đời sống kinh kỳ những làng nông nghiệp này thường chuyên canh các đặc sản nổi tiếng tùy theo thổ nhưỡng từng vùng. Thí dụ, những làng đất bãi ven hồ Tây và sông Hồng chuyên trồng dâu nuôi tằm. Mặt tây và nam là một loại làng chuyên canh với những sản phẩm làm ruộng và làm vườn đã đi vào ca dao tục ngữ như "ớt Ðịnh Công, nhãn lồng Thanh Liệt", "cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì", "húng Láng"...
Trong đời sống kinh tế Thăng Long dĩ nhiên các hoạt động công thương nghiệp giữ vai trò chi phối và thể hiện tính tiên tiến hơn hẳn so với nông thôn.
Các nghề thủ công của Hà Nội truyền thống tập trung thành hai khu vực chính. Vùng ven hồ Tây và ven sông Tô với những điều kiện giao thông thuận tiện, có sông nước và đất đai rộng trở thành khu vực tập trung những nghề thủ công phức hợp đòi hỏi hiện trường lao động lớn như đúc đồng Ngũ Xã, dệt gấm và lĩnh Trích Sài, Yên Thái, Bái Ân, Trúc Bạch, nhuộm Võng Thị, giấy Yên Thái, Nghĩa Ðô... Khu vực phía đông, phố phường đông đúc cũng là nơi tập trung những nghề thủ công quy mô sản xuất nhỏ với yêu cầu kỹ thuật tinh xảo như các nghề sơn khảm, thêu, khắc ván in, kim hoàn, mỹ nghệ, chế biến thực phẩm... Tính toán sơ bộ, Thăng Long - Hà Nội xưa có đến 30 nghề thủ công truyền thống, chưa kể các nghề chế biến thực phẩm. Ðấy là cơ sở hun đúc nên truyền thống "khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ".
Các hoạt động buôn bán thì hầu như bao trùm khắp các phố phường với một hệ thống chợ, phố xá và bến cảng dày đặc. Nhưng khu buôn bán tập trung và tiêu biểu nhất là khu phía đông Hoàng Thành trải rộng ra cho đến bờ sông Hồng. Khu này có chợ Cửa Ðông, bến Giang Khẩu trên của sông Tô, bến Ðông trên bờ sông Hồng rất nổi tiếng và nhiều phố phường, chợ bến, cửa hàng buôn bán tấp nập. Ở đây cư dân đông đúc, phố xá chật hẹp nên người ta phải làm nhà sàn nhô ra ven sông, ven hồ. Trên bãi sông Hồng thế kỷ 17 còn xuất hiện những thương điếm của các công ty tư bản phương Tây như thương điếm Hà Lan (1645 - 1699), Anh (1683 - 1697).
Quy hoạch kinh tế của Thăng Long - Hà Nội xưa dựa trên sự phát triển tự nhiên của phần thị dân, nhưng cũng phản ánh khuynh hướng chung là thích nghi và tận dụng những điều kiện thiên nhiên có sẵn.
Về mặt kiến trúc, trong Hoàng Thành cũng như ngoài phố phường dần dần mọc lên những quần thể kiến trúc gồm cung điện, dinh thự của vua quan, nhà cửa của dân gian và các chùa tháp, đền miếu. Chùa Một Cột với kiểu dáng độc đáo... cùng với Thăng Long tứ trấn gồm đền Ðồng Cổ, đền Bạch Mã, đền Linh Lang, Quán Trấn Vũ... là những kiến trúc nổi tiếng của đất Kinh kỳ ngàn năm văn vật. Tất cả các kiến trúc đó dù cao hay thấp, lớn hay nhỏ đều hòa mình với cảnh quan thiên nhiên và giữ vẻ đẹp trong sự hài hòa với đất đai, trời nước và cỏ cây chung quanh.
Trừ vườn Thượng Uyển dành cho vua chúa Thăng Long xưa chưa có những công viên như ngày nay, nhưng thay vào đó, lại có nhiều ao, hồ, nhiều rừng cây tự nhiên. Những rừng cây này lan quanh hồ Tây, vào đến đền Voi Phục và ven hồ Tây, cùng voi nhà nhử voi rừng. Năm 1354, hổ đen xuất hiện trong thành. Năm 1456, hổ vào đến tận chùa Một Cột. Những ao hồ, rừng cây tự nhiên đó còn có vẻ hoang sơ, nhưng lại nhờ đó mà giữ được sự cân bằng sinh thái và bảo vệ được môi trường của đất Kinh kỳ.
Thêm vào đấy còn có những vườn cây ăn quả xanh tốt và những đường phố cây hai bên như phố Hòe Nhai trồng hòe ở phía đông, phố Liễu Giai trồng liễu ở phía tây và cả một con đường dài 500 trượng (khoảng hai km) từ Bưởi đến bờ sông Hồng trồng toàn muỗm.
Một nét đơn điệu của địa hình Thăng Long - Hà Nội xưa là chỉ có đồng bằng, ao hồ, sông nước, mà thiếu hẳn đồi núi, có chăng là một ít doi đất cao, dấu vết của những thềm bậc sông cũ. Ðể phá thế đơn điệu đó và điểm tô cho vẻ đẹp Thăng Long, các vương triều xưa đã cho đắp nên một loạt núi đồi nhân tạo như núi Nùng, núi Khán, núi Tam Sơn, núi Cung, núi Vạn Bảo.
QUA những nét phác họa về thẩm mỹ môi trường của Hà Nội truyền thống trong lịch sử, tôi rút ra vài nhận xét:
1. Quy hoạch và mọi kiến trúc của Thăng Long - Hà Nội đều toát lên một dụng ý sâu xa của cha ông là đã cố gắng thích nghi và tận dụng tối đa những điều kiện thiên nhiên có sẵn, trên cơ sở đó từng bước cải tiến và tô điểm thêm cho phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh thành và cuộc sống của nhân dân kinh thành. Nhờ đó vừa tiết kiệm được công sức và tiền của, vừa tạo nên được vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa cảnh quan tự nhiên và kiến trúc nhân tạo, vừa giữ được sự cân bằng sinh thái và bảo vệ được môi trường ngay giữa đất Kinh kỳ. Ðấy là một nét đặc trưng về thẩm mỹ môi trường của lịch sử Hà Nội truyền thống.
2. Do quan điểm thẩm mỹ trên các di tích lịch sử và văn hóa của Thăng Long - Hà Nội xưa còn được bảo tồn đến nay, chỉ giữ được giá trị đầy đủ của nó khi chúng ta không những bảo vệ được bản thân di tích đó, mà còn phải đặt nó trong một phạm vi bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên cần thiết chung quanh. Ðiều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa truyền thống của Thủ đô. Rất tiếc là quan điểm này chưa được quán triệt bao nhiêu nên một số di tích trở nên trơ trụi, đơn độc, làm giảm và mất một phần đáng kể về vẻ đẹp vốn có của nó. Ðó là chưa nói đến những di tích lịch sử và văn hóa bị phá hủy một cách vô ý thức hay hữu thức bởi một bộ phận dân chúng và cả một số cơ quan, chính quyền địa phương vì thiếu hiểu biết về văn hóa và vô trách nhiệm đối với lịch sử.
3. Công việc quy hoạch và kiến thiết Thủ đô ngày nay của chúng ta dĩ nhiên đặt trên một cơ sở hoàn toàn mới và chúng ta không thể lập lại hay dừng lại những quan điểm cổ xưa của cha ông. Nhưng Hà Nội xã hội chủ nghĩa hôm nay và ngày mai vẫn phải bảo đảm được sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa thiên nhiên và con người và trên những phương tiện này, lịch sử cùng với những kinh nghiệm phong phú của nó giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tính truyền thống, giá trị truyền thống và những bài học của tổ tiên để lại, từ đó có thể vận dụng sáng tạo và có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng Thủ đô ngày nay.
GS PHAN HUY LÊ
(Rút từ Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long)