Ngân hàng là con nợ cho đến quốc gia là con nợ, ranh giới giữa nợ xấu và nợ tốt thật mong manh trong chiến lược phát triển. Bài viết dài kỳ của Alexander Jung trên tạp chí Tấm gương (Đức) tháng 1-2012 hệ thống lại hành trình nợ nần xuyên quốc gia kinh khủng như thế nào.
Hiểm họa nợ đè nặng thế giới phương Tây
Trách nhiệm pháp lý thực sự của nước Đức
Một đất nước phải làm gì để không chỉ hạn chế tăng nợ mà còn giảm quy mô khoản nợ đó? Có nhiều cách, và các cách thức này khác nhau chủ yếu dựa trên mức độ hy sinh và dựa trên năng lực của những người có thể chịu được gánh nặng nợ đó.
Cách thức tàn bạo nhất là chiết khấu nợ, thường dành cho những trường hợp vô vọng nhất như Hy Lạp. Các chủ nợ bị ép buộc phải từ bỏ một phần lớn quỹ mà họ đang nắm giữ. Các ngân hàng, công ty bảo hiểm, những người dân đi gửi tiền tiết kiệm và những người được bảo hiểm thường là các đối tượng chịu ảnh hưởng.
Sự phá sản của chính phủ chắc chắn là một sự kiện bất thường trong lịch sử kinh tế. Pháp từng tuyên bố phá sản tám lần từ năm 1500 đến năm 1800, trong khi đó, Tây Ban Nha không thể đáp ứng được nghĩa vụ của mình bảy lần chỉ trong thế kỷ 19. Adam Smith, nhà triết học người Scotland năm 1776 đã cho rằng: “Quá trình tích lũy các khoản nợ lớn đè nặng cho đến hiện tại và sẽ tàn phá nền kinh tế của các nước lớn ở châu Âu trong dài hạn, đều có những đặc điểm khá giống nhau.
Trong những năm đầu thế kỷ 19, từ hệ quả của các cuộc chiến tranh và cách mạng, Hy Lạp đã mất một nửa thời gian của mình trong tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc tái cơ cấu nợ. Các nước khu vực đồng euro đáng lẽ phải được cảnh báo trước khi họ chấp nhận Hy Lạp tham gia vào liên minh tiền tệ.
Hy Lạp đã trải qua giai đoạn phá sản bất thường năm 1922, lúc đó Bộ trưởng Tài chính Petros Protopapadakis đã ra lệnh cắt giảm một nửa giá trị mệnh giá của tất cả tiền giấy. Một nửa lượng tiền tệ chỉ đáng giá một nửa giá trị ban đầu, trong khi công dân đã được yêu cầu đổi nửa còn lại ra trái phiếu chính phủ.
Từ “tán tỉnh” đến “kết hôn”
Một chiến lược mềm dẻo hơn, nhẹ nhàng hơn để được xóa nợ là thông qua lạm phát. Giá tăng, thu nhập và các loại thuế cũng tăng, trong khi các khoản nợ trên danh nghĩa vẫn còn nguyên giá trị, do đó nợ sẽ mất giá trị trong điều kiện tương đối. Các món nợ bị loại bỏ chủ yếu nhờ vào lạm phát thì người dân cũng bị tước đoạt một phần trong quá trình này.
Theo kinh tế gia Mỹ Kenneth Rogoff, nếu nền kinh tế có thể chịu được một tỷ lệ lạm phát khoảng 4-6% trong nhiều năm liên tiếp, thì các nước này có thể đạt được những bước tiến đáng kể trong việc giải quyết vấn đề nợ đọng. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát thường không dễ kiểm soát được theo ý muốn. Người ta thường nói nếu bạn đã “tán tỉnh” lạm phát, bạn sẽ phải “kết hôn” với nó.
Giải pháp lạm phát chỉ hiệu quả khi muốn loại bỏ các khoản nợ cũ. Với mỗi một đồng euro mới được vay mượn, các chủ nợ sẽ yêu cầu lãi suất thu về cao hơn, mà cuối cùng chính điều này càng gia tăng mức độ nợ xấu hơn.
Suy cho cùng chỉ có hai cách thông thường để trả nợ.
Cách thứ nhất, chính phủ có thể tăng ngân sách thông qua việc tăng thuế. Cơ sở tài chính cho những biện pháp khẩn cấp như vậy đã từng xảy ra trong lịch sử: Đức nắm giữ khoản tài sản tiền khoảng ba nghìn tỷ euro, nếu bao gồm cả các giá tị bất động sản thì có thể lên đến năm nghìn tỷ euro. Và các tốt nhất là đánh vào thuế tài sản thừa kế. Với khoảng 300 tỷ euro tài sản được chuyển giao cho người thừa kế mỗi năm, chỉ tính trong năm 2010, Đức đã thu về được khoảng 4,4 tỷ euro tiền thuế này. Nếu tính cả thuế điện lực thì ngân sách có thể tăng lên đến 6,2 tỷ euro.
Cách thứ hai, chính phủ giảm chi tiêu thông qua việc hạn chế hàng hóa và dịch vụ. Chính phủ sẽ buộc phải thực hiện biện pháp cắt giảm chi phí bởi giới hạn trần nợ mới sẽ sớm được áp dụng. Theo đó, vay nợ mới của các chính quyền liên bang được giới hạn chỉ chiếm 0,35% GDP, khoảng chín tỷ euro. Biện pháp này sẽ mở ra hy vọng mới, rằng chiều hướng gánh nợ mới sớm hay muộn rồi cũng sẽ phải dừng lại. Theo kinh nghiệm của doanh nhân Goebel thì “đây là phương pháp đúng đắn duy nhất”.
Tạo tăng trưởng rất khó
Tuy nhiên luật nào cũng có ngoại lệ. Chính phủ có thể thả phanh nợ trong thời kỳ suy thoái kinh tế, cũng như khi bị thiên tai. Cái thiếu trong mệnh đề này chính là thặng dư trong những năm kinh tế hiệu quả có thể được mang đi trả nợ, không phải là để giảm thuế.
Tuy nhiên, việc củng cố tài chính thì chắc chắc có thể, như trường hợp của Ý, Tây Ban Nha và Bỉ đã chứng minh vào cuối những năm 1990. Các nước này giảm đáng kể các mức nợ của họ. Với Tây Ban Nha, họ đã cắt được nợ từ 67% xuống còn 36% tổng sản lượng kinh tế của họ trong 10 năm. Tất nhiên, cách làm này có thể thực hiện được bởi thực tế nền kinh tế của Tây Ban Nha đã được chứng minh là khá năng động vào thời điểm đó.
Rõ ràng, tốc độ tăng trưởng là cách tốt nhất để thoát ra khỏi cái bẫy nợ. Sau chiến tranh thế giới thứ II, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với nợ quốc gia. Kết quả là tỷ lệ nợ được tự động giảm.
Mặc dù vậy, ngày nay dân số già đi và co lại khiến cho các nước gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tăng sản lượng kinh tế. Điều này có nghĩa là các nước phát triển với tốc độ chậm hiện nay như Nhật Bản hay Đức khó có thể là khách hàng cho vay đáng tin cậy của ngày mai. Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Việt Nam có thể bảo đảm hơn. Trớ trêu thay đối với các cơ quan xếp hạng, những ứng cử viên yếu đuối của quá khứ lại có thể trở thành là những nền kinh tế đáng tin cậy nhất của tương lai.
Mặt khác, ở phương Tây, hiện nay nhà nước phải tăng cường đảm nhận vai trò của đầu tàu tăng trưởng. Để làm được điều này, họ đi vay và cố gắng giảm nợ công với giá trị gia tăng. Kurt Biedenkopf (Đảng CDU), cựu thống đốc của bang Saxony phía đông của Đức, đã mô tả điều này như là một quá trình chết người trong đó chính phủ vay nợ mới để thúc đẩy tăng trưởng qua đó mới trả được hết nợ cũ.
Quyền lực của cái ví tiền
Biedenkopf gần đây đề xuất một khái niệm mà ông lập luận rằng gánh nặng nợ có thể được trả đủ chỉ trong vòng một thế hệ. Theo khái niệm này, tất cả các trách nhiệm pháp lý sẽ được chuyển giao cho một tổ chức, được gọi là “Cơ quan tài chính Đức”, ở đó một phần doanh thu thuế sẽ được phân bổ để trả nợ dần dần, do đó không cần phải có ý kiến của quốc hội. Nhưng vấn đề là liệu các thành viên của quốc hội có sẵn sàng đồng ý bị tước đi quyền lực của cái ví tiền.
Hội đồng các chuyên gia kinh tế Đức có vẻ thực tế hơn khi công bố một kế hoạch mới trong tháng 11 vừa rồi. Hội đồng đề xuất thành lập một loại quỹ có khả năng đảm nhận tất cả các khoản nợ vượt quá trần Maastricht 60% sản lượng kinh tế, của các quốc gia thành viên đồng euro. Theo kế hoạch này, tổng số nợ vào khoảng 2,5 nghìn tỷ euro sẽ được thanh toán đủ trong vòng 20 đến 25 năm, trong đó một phần sẽ thông qua các khoản phụ thu thuế.
Cho dù phương Tây có sử dụng bất kỳ phương pháp nào nhằm chống lại cuộc khủng hoảng nợ của mình – dù đó là biện pháp thắt lưng buộc bụng, các loại hình thuế, lạm phát, hoặc có thể kết hợp cả ba cách, thì việc giải quyết vấn đề này vẫn sẽ định hình cuộc sống và việc làm của cả một thế hệ.
Trong một nghiên cứu của mình, công ty tư vấn quản lý Mc Kinsey dự đoán: “Nếu lịch sử là một mô hình, chúng ta có thể mong đợi trả nợ trong nhiều năm”. Nói cách khác, nợ kiểu lở tuyết là không thể tránh khỏi, và câu hỏi duy nhất là liệu các quốc gia có kịp tự bảo vệ mình.
Đó không phải là một câu hỏi chấm dứt hy vọng của các chuyên gia dự đoán hoặc xử phạt các cơ quan xếp hạng. Những cuộc tranh cãi như vậy đơn thuần chỉ là một sự xao lãng trách nhiệm của các chính trị gia khi họ liên tục vay nợ mới để trả lãi nợ cũ. Nhưng đó cũng là trách nhiệm mà cử tri phải chịu khi khuyến khích hành vi đó, và rằng các ngân hàng phải chịu trách nhiệm khi luôn phụ thuộc vào sự cứu giúp của chính phủ bất cứ khi nào họ gặp thua lỗ trên chính đồng tiền kinh doanh của mình.
Ai cũng biết rằng cơ chế Ponzi không bao giờ có kết quả tốt.