70 năm cuộc “Đại vượt ngục Hỏa Lò” và cuộc hội ngộ các cựu tù Hỏa Lò với các thế hệ con em

Thứ Sáu, 06-03-2015, 09:51
Cựu tù Hỏa Lò thắp hương tưởng niệm.

NDĐT- Cho đến tháng 3 năm nay, cuộc vượt ngục lịch sử ấy vừa tròn 70 năm. Gần 150 tù chính trị đã vượt ngục thắng lợi, trở về với phong trào và là những cán bộ lãnh đạo cốt cán cho Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 ở Hà Nội và 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Hà Nội, những ngày sát Tết Nguyên đán 2015.

Con em cựu tù Hỏa Lò (1930-1945) nhóm họp. Anh Trần Kháng Chiến (con trưởng Thiếu tướng Trần Tử Bình – “Trưởng Ban sinh hoạt” tù chính trị, người tổ chức cuộc “đại vượt ngục” tháng 3-1945) tình nguyện chủ trì.

Sáng thứ bảy, 7-2-2015. Trời rét ngọt. Tại Khu di tích Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, có cuộc hội ngộ của các cựu tù còn sống với thế hệ con em cựu tù.

* Anh Trần Kháng Chiến nhớ lại: “Năm 1997, anh em tôi đến thăm Đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Nhắc đến cuộc vượt ngục Hỏa Lò năm ấy, ông nhớ ngay: “Hai xứ uỷ viên Trần Đăng Ninh và Trần Tử Bình đã cùng anh em tù chính trị dùng phép “thăng thiên” và “độn thổ” để vượt ngục…”.

Câu chuyện từ Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo

Ông Nghĩa cùng ông Nguyễn Đình Thi bị bắt khi đang rải truyền đơn mừng ngày thành lập Đảng đầu năm 1942. Sau đó, ông bị tống giam Hỏa Lò…

Năm nay, tuy đã 94 nhưng ông vẫn rành mạch hồi tưởng: “Anh Trần Tử Bình bị mật thám bắt cuối năm 1943, rồi bị tạm giam ở Phủ Lý, Hà Nam. Anh bị đánh rất đau. Chúng phải đưa ra Nhà thương Phủ Lý và giám sát chặt chẽ. Anh Vũ Lăng lúc bấy giờ là một y tá trẻ, được các cụ Mai Lập Đôn, Mai Thị Vũ Trang giác ngộ, trong ca trực đã cố tình bỏ đi đánh tennis. Lợi dụng sơ hở, anh Bình đã bẻ song sắt, trốn ra ngoài nhưng bị lộ. Chúng tống anh về Ninh Bình rồi kết án anh 20 năm khổ sai. Đầu năm 1944 thì anh bị đưa về giam tại nhà tù Hỏa Lò”. Mới kể chuyện, thế mà giờ ông đã đi xa.

Thấy ông Bình là người từng trải, tính tình cởi mở, lại cùng là dân Công giáo nên hai anh em kết thân. Trong tù lúc đó có ông Trần Đăng Ninh, nguyên Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ, cùng hai Xứ uỷ viên Trần Tử Bình, Lê Tất Đắc.

Ông Bình được tập thể tù chính trị bầu làm “Trưởng Ban sinh hoạt”. “Ban” chăm lo đời sống cho anh em, giao dịch với giám thị nhằm bảo đảm chế độ cho tù nhân. (Thực chất là một tổ chức đấu tranh công khai). Anh em được học tập nâng cao trình độ lý luận, nâng cao khả năng tuyên truyền, diễn thuyết, công tác bí mật, lý luận quân sự, thảo luận về tình hình quốc tế, về Liên Xô, Trung Quốc…

Trước khi bị bắt, ông Bình đã dự họp Xứ ủy (vào ngày 13-11-1943), triển khai nghị quyết Thường vụ Trung ương: “Toàn bộ công tác của Đảng phải nhằm vào việc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, để khi cơ hội đến sẽ đưa quần chúng nhân dân ra chiến đấu”. Khi về Hoả Lò, ông phổ biến lại nghị quyết cho anh em. Vấn đề vượt ngục vốn đã nung nấu, nay càng trở nên cấp bách.

Tại Hỏa Lò, các tù chính trị nam và nữ bị giam riêng biệt. Bộ phận nữ tù chính trị là một tập thể kiên cường, có tổ chức, chị em cũng đã sẵn sàng.

Một sáng tháng 5-1944, quân thù đưa anh Hoàng Văn Thụ ra pháp trường. Anh em tù chính trị hô lớn: “Phản đối án tử hình! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm! Tinh thần Hoàng Văn Thụ bất diệt!”. Và, Hoàng Văn Thụ đã dõng dạc hô: “Việt Nam độc lập muôn năm! Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Chào các anh ở lại, tôi đi”. Tinh thần bất khuất của Hoàng Văn Thụ là tấm gương cho mỗi tù chính trị, thúc giục sự khát khao tự do, hiến dâng sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Cũng trong thời gian 1943-44, Trung ương có chủ trương “tổ chức vượt ngục cho tù chính trị”. Tin về cuộc vượt ngục thành công của nhóm tù chính trị Sơn La (trong đó có ông Nguyễn Lương Bằng) vào tháng 8-1943 và cuộc vượt ngục của đồng chí Văn Tiến Dũng ở nhà tù Bắc Ninh (tháng 12-1944) càng động viên anh em.

Tối mùng 9-3-1945, quân Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Việt Nam và Đông Dương. Ngay tối đó, anh em tù chính trị đã thống nhất: 1, Kiên quyết giữ vững lập trường, khí tiết của người cộng sản, không để bọn Nhật lợi dụng. 2, Triệt để tranh thủ tình hình rối ren, khi bọn Nhật chưa vững chân, tổ chức của địch còn lỏng lẻo để khẩn trương tạo cơ hội vượt ngục.

Thời cơ quý báu đã đến!”.

Sự nhanh trí, sáng tạo của tù chính trị

Lão đồng chí Nguyễn Tuân, nguyên thứ trưởng Bộ Điện -Than, trong lễ tưởng niệm đồng chí Trần Tử Bình (tháng 8-2004), kể về cuộc vượt ngục thần kỳ này: “Nửa đêm 9-3-1945, một sĩ quan Nhật dẫn một tiểu đội lính chiến với súng ống, lưỡi lê vào nhà tù tìm bọn tay sai bị giam tại đây. Viên sĩ quan lừa phỉnh: “Người Nhật đã đánh bại quân Pháp, giúp Việt Nam độc lập. Ngày mai sẽ thả các anh ra”. Vừa nghe hắn nói, tôi tranh thủ đề đạt: “Các ông nói ngày mai thả chúng tôi. Vậy đề nghị mở cửa các trại để chúng tôi được gặp nhau, chia tay trước khi về quê!”. Hắn gật đầu. Vậy là anh em tù chính trị qua lại gặp nhau, trao đổi kế hoạch vượt ngục.

Ngày 10-3, mọi kỷ cương của nhà tù bỗng chốc bị đảo lộn. Các giám thị và quan chức Pháp cùng gia đình bị dồn vào trong một phòng. Giám thị người Việt không còn dám nghênh ngang. Ông Bình thống nhất: Ai có điều kiện trốn vào lúc nào thì chủ động trốn, các đồng chí bị án nặng được ưu tiên đi trước. Quỹ tài chính do anh em đóng góp được chia cho mọi người.

Trong Ban sinh hoạt, ông Nghĩa phụ trách “đối ngoại” nên có điều kiện đi lại tự do giữa các khám.Lợi dụng lộn xộn về quản lý, đồng chí Trần Đăng Ninh bị biệt giam ở xà lim tử tù trà trộn sang khu giam thường phạm. Sáng 10-3, nhiều tù thường phạm đột nhập vào nhà kho lấy đi một số đồ dùng: quần áo, chăn chiên, thang, xà beng, cuốc chim…

Ngày 11-3, không khí trong tù sôi sùng sục. Toán thường phạm thử dùng xà beng đục tường, phá nền xi-măng, đào hầm chui ra nhưng không thành”.

Phép “thăng thiên” thoát ngục

Ngày 11-3, ông Trần Đăng Ninh cùng anh em tù chính trị tập trung bàn kế hoạch vượt ngục. Theo chỉ thị của ban lãnh đạo, ông Nghĩa sang báo cho bà Trương Thị Mỹ về chủ trương vượt ngục, kịp phổ biến cho nữ tù chính trị.

Trước tình hình thực tế ở Trại thường phạm, ông Nghĩa được cử đi gặp Cầm Văn Dung - nguyên Tri châu Mường La. Ông ta bị kết án khổ sai vì liên đới đến vụ đầu độc Công sứ Sơn La Xanh Pu-lốp.

Cầm Văn Dung vốn là người có học, ghét Pháp, trong nhiều năm là thủ lĩnh của cánh thường phạm nhưng rất trọng anh em tù chính trị từ ngày còn ở Sơn La. Cầm Văn Dung nhất trí kế hoạch vượt ngục qua tường rào. Chăn chiên được xé ra, bện thành những dây dài, to, chắc. Tù nhân sẽ leo lên mái nhà rồi bắc thang qua bờ tường. Dây to được buộc cố định vào trụ điện trên bờ tường, thả ra ngoài. Đi lần lượt, cứ một tù chính trị thì đến một thường phạm. Anh em tù chính trị có sáng kiến lấy chăn chiên trùm lên mảnh chai cắm trên bờ tường - phòng đứt tay chân và trùm lên dây điện - tránh bị giật.

Sau khi thỏa thuận được với Cầm Văn Dung, danh sách vượt ngục được lên. Ông Bình giao nhiệm vụ cho ông Nghĩa bảo vệ “thượng cấp” Trần Đăng Ninh...

Trong đêm 11-3, các đồng chí Trần Đăng Ninh, Vũ Kỳ, Lê Trọng Nghĩa, Vũ Tuân, Lê Tất Đắc, Nguyễn Văn Kha, Châu Ký, Nguyễn Chương, Hoàng Minh Chính… đã thoát ra ngoài từ trại thường phạm.

Sau khi Cầm Văn Dung đã thoát ra ngoài, cánh thường phạm không còn giữ được trật tự, tranh nhau trèo lên mái nhà làm ngói vỡ. Quân Nhật phát hiện,nổ súng. Lối đi này bị lộ…

Đợt vượt ngục đầu tiên tuy chưa giải thoát được nhiều nhưng có tác dụng động viên anh em tiếp tục vượt ngục.

Riêng ông Cầm Văn Dung, theo hồi ký của đồng chí Văn Tiến Dũng, chính là người chuyển thông tin rất quan trọng của đồng chí khi bị giam ở Hỏa Lò ra cho Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 8-1944). Năm 1945, Cầm Văn Dung vào Việt Minh. Rồi ông là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Khu tự trị Tây Bắc.

Tìm đường “độn thổ”

Ngày 12-3, tù chính trị tiếp tục bàn các phương án vượt ngục.

Khi còn học ở Chủng viện Hoàng Nguyên, ông Bình đọc nhiều sách kiếm hiệp Tàu, trong đó có kể các hiệp khách tung hoành trong các đường hầm dưới lòng đất. Lúc bị giam ở Ninh Bình, ông từng có ý định vượt ngục theo đường cống ngầm. Ý nghĩ này chợt đến khi ông đang lang thang trong sân nhà tù và nhìn thấy cái nắp cống bê-tông có treo vòng thép…

Khi còn sống, ông Nguyễn Huy Hòa, nguyên Hiệu phó Trường Tuyên huấn Trung ương, từng kể: “Anh Trần Văn Cử thì ở tù Sơn La về Hỏa Lò. Còn tôi bị bắt từ lúc còn ở tuổi thiếu niên, từng bị giam ở Trại J. Lúc bấy giờ có ông mãnh nghịch ngợm, thử mở nắp cống, chui xuống xem “âm phủ” ra làm sao. Lần mò một lúc phải chui lên vì dưới đó tối om, ẩm thấp, bẩn thỉu, hôi hám”.

Khi anh Bình và một số anh em đưa ra ý tưởng vượt ngục theo đường cống ngầm, có anh băn khoăn: “Đường cống hẹp quá, khó chui lọt lắm!”.Anh Bình nói gần như chỉ thị: “Đừng đoán mò như thế, cứ đi xem thử rồi về báo cáo lại. Không được bàn chùn!”. Vậy là tôi bàn với Vân và Cử, đi thử một lần.

Tôi và Cử nhỏ người nên xung phong chui cống, còn Vân ở lại đậy nắp cống, canh chừng. Sau chừng tiếng đồng hồ bò, trườn trong lòng cống, đã tới được hố ga, thấy được ánh sáng, đó là cửa cống. Ghé mắt qua khe, thấy chân người, bánh xe đạp lăn qua và tiếng động của đường phố. Thử lấy đầu đội lên thì thấy nắp cống chuyển dịch. Cả hai khẳng định đường cống từ nhà tù Hỏa Lò dẫn ra đường cái, rồi quay trở lại. Vân thấy ám hiệu, chạy ra mở nắp cống. Thời gian cả đi và về hết chừng 2 tiếng…”.

Ba đồng chí Hòa, Vân, Cử báo cáo với ông Bình: đã tìm ra lối đi tại Trại J.

Ông Trần Văn Cử, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ, trẻ em; năm nay đã 94 còn nhớ: “Sau ngày 9-3, mọi trật tự bị đảo lộn. Những quy định hà khắc xưa bị bãi bỏ, chính trị phạm có thể trà trộn với thường phạm. Nhờ thế, tôi thoát được sang pha nữ…

Anh em đã suy nghĩ về phương án chui cống với phỏng đoán: nước thải phải chảy xuôi, thoát ra một hồ lớn hay ra sông Hồng; vậy cứ theo đường nước thải là có thể thoát… Phải chuẩn bị một bao diêm và một thanh sắt để mỗi khi đến chỗ giao nhau của đường cống thì bật diêm nhìn dòng nước chảy mà đi, còn gặp rào cản thì dùng thanh sắt mà phá. Khi bật nắp cống lên thì phải dùng đến xà beng. Xà beng là thanh sắt dày 3cm, dài 40cm, nhờ giao dịch với cánh thường phạm mà có.

Đúng dự kiến, từ cống cái, tôi và anh Hòa gặp đoạn cống nhỏ, ngập đầy phân, phải trườn bằng cùi tay và đẩy bằng gót chân. May nhất là không gặp rào cản… Khi chui lên khỏi cống, một số tù nhân nhìn thấy, xô lại hỏi nhưng cả hai lắc đầu: “Gay go lắm. Tắc. Chả ăn thua”. Chờ mọi người tản ra, chúng tôi mới nháy mắt báo Vân: “Đi được rồi! Thấy cả xe đạp trên đường…”.

Ban lãnh đạo lập kế họach vượt ngục: Tù chính trị chia thành từng nhóm nhỏ, lần lượt theo đường cống ngầm ra ngoài trong nhiều tối. Ngay đêm 12-3, 29 đồng chí đi trước tập trung ở Trại J. Danh sách các nhóm đi sau được ông Bình bàn giao lại cho ông Nguyễn Lam.

Tối 12-3, khoảng 8 giờ, ông Bình phát lệnh: “Mở nắp cống!”. Nhóm đi đầu “lĩnh ấn tiên phong” có bốn người: Trần Tử Bình, Phan Vân, Nguyễn Tuân và Nguyễn Huy Hòa. Trước giây phút làm phép “độn thổ”, ông Bình còn đùa: “Sống thì nhớ, chết thì giỗ giờ phút này!”…

Khi bật nắp cống chui lên mới thấy phía bên kia là vườn hoa Mê Linh; sau lưng là bức tường cao 5m cắm đầy mảnh chai,căng dây thép gai dọc theo đường Rue Richaud (nay là Quán Sứ) cùng hai tháp canh ở hai góc nhà tù có lính Nhật đứng gác.

Ngay trong đêm, nhóm đầu tiên về đến làng Vạn Phúc, Hà Đông nơi cơ quan Thường vụ Xứ ủy đóng. Nhóm thứ hai có Trần Văn Cử, Nguyễn Cao Đàm, Đỗ Mười…

Như vậy tổng số tù chính trị vượt ngục theo đường cống ngầm, trong các đêm từ 12 đến 20-3, hơn 100 người. Mọi người khẩn trương lao vào chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa…

*

Trước cổng Hỏa Lò.

Và câu chuyện của ngày hôm nay

Hà Nội đầu năm 2015. Anh Trần Kháng Chiến thu xếp đến thăm những cựu tù Hỏa Lò còn sống đến ngày hôm nay.

Cụ Đỗ Mười (98 tuổi), đi trong toán thứ 2 trong đêm 12-3-1945, đã yếu. Cụ Lê Trọng Nghĩa (94 tuổi – mới mất ngày 22-2-2015) và cụ Trần Văn Cử (93 tuổi) mấy ngày này đang bệnh vì tiết trời giá lạnh. Các cụ không thể đến được Hỏa Lò.

Đúng 8 giờ sáng 7-2-2015, các cựu tù cùng con em cựu tù vượt ngục ra trong các đêm từ 11-3 đến 20-3-1945 (Trần Đăng Ninh, Lê Tất Đắc, Trần Tử Bình, Trần Độ, Trương Thị Mỹ, Trần Văn Cử) và gia đình cụ Nguyễn Tạo (vượt ngục cùng cụ Nguyễn Lương Bằng, năm 1932) có mặt, thắp hương tại Đài tưởng niệm của Khu di tích. Sau đó, các cựu tù rành mạch kể lại những câu chuyện vượt ngục cho thế hệ sau.

Cụ Tạ Quốc Bảo năm nay 89 tuổi, Trưởng Ban Liên lạc cựu tù Hỏa Lò (1930-1945), sôi nổi: “Khi đó, vì còn trẻ nên tôi được giao ở lại nhà tù. Đến tháng 8-1945,dưới sức ép của xu thế cách mạng mà chính quyền Trần Trọng Kim phải phóng thích nhiều tù chính trị, trong đó có tôi”.

Cụ bà Nguyễn Thị Phúc Hằng năm nay đã 94, được con trai chở đến. Vì trời quá lạnh, cụ không được ra thắp hương, cảm động góp chuyện: “Bà Trương Thị Mỹ được người nhà vào thăm và đưa cho bộ quần áo, đã trà trộn cùng thăm thân trốn ra. Còn tôi được ra theo đường hợp pháp. Nhà tôi có chồng là ông Trần Độ và chị chồng là bà Tạ Thị Câu cũng là cựu tù Hỏa Lò…”.

Quay về TP Hồ Chí Minh, anh Trần Kháng Chiến đến thăm cụ Nguyễn Thọ Chân. Cụ năm nay vừa tròn 95, nhưng vẫn tinh tường: “Tôi cũng là cựu tù Hỏa Lò, sau đó bị đày ra Côn Đảo đến tận 1945. Nhà tôi có bà chị ruột – chị Tam và cháu ruột Đỗ Mười cũng là cựu tù… Các anh vừa tổ chức cuộc gặp mặt tại Hỏa Lò hôm rồi thật ý nghĩa”.

Khâm phục trước sự táo bạo, dũng cảm của thế hệ đi trước, thế hệ con cháu nhớ mãi lão đồng chí Nguyễn Huy Hoà khi còn sống từng kết thế này: “Cuộc vượt ngục đã thành công một cách thần kì nhờ “ba cái có” của anh em tù chính trị: có lòng dũng cảm, có mưu trí, sáng tạo và còn có cả máu mạo hiểm”. Ngẫm lại thấy, nếu không dám mạo hiểm có lẽ sẽ mất thời cơ!

Xin thành tâm kính chúc các lão đồng chí, các cựu tù chính trị Hỏa Lò, đã tham gia cuộc vượt ngục Hỏa Lò lịch sử dồi dào sức khỏe, sống lâu để cùng con cháu chứng kiến sự đổi thay của đất nước!

TRẦN KIẾN QUỐC