Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2030-2035, các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 dự kiến được đưa vào vận hành với tổng công suất 4.000 đến 6.400MW. Cùng với đó, việc nghiên cứu các công nghệ mới như lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đang được đề xuất để mở thêm lựa chọn cho phát triển nguồn điện trong dài hạn.
Cơ cấu nguồn điện đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo. Điều này đặt ra yêu cầu duy trì nguồn cung ổn định, liên tục và có khả năng đáp ứng phụ tải trong dài hạn. Đây cũng là một trong những cơ sở để điện hạt nhân được xem xét trở lại trong chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam.
Chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Kinh tế năng lượng, Viện Năng lượng (Bộ Công thương) cho rằng, một lợi thế của nhiên liệu hạt nhân là có thể dự trữ trong nhiều năm, khả năng chủ động nguồn nhiên liệu dài hạn, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng trước những biến động từ bên ngoài, trong khi chưa có hệ thống dự trữ chiến lược đủ lớn đối với xăng dầu và dầu thô.
"Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2030-2035 đã đặt mục tiêu đưa vào vận hành các Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 với tổng quy mô 4.000 đến 6.400MW.
Trong đó, Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 có tổng công suất 2.400MW do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư; Dự án Ninh Thuận 2 do Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) thực hiện. Các dự án này được đánh giá sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu về năng lượng phát triển kinh tế-xã hội trong dài hạn, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô", Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hưng nhấn mạnh.
EVN đã lập hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án; tham gia đàm phán Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1; phối hợp các bộ, ngành đánh giá cơ sở hạ tầng điện hạt nhân của Việt Nam.
Cùng với đó, EVN tham gia góp ý hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ vận hành nhà máy. Những nhiệm vụ này cho thấy quá trình chuẩn bị cho một dự án điện hạt nhân phải được triển khai đồng bộ, từ thể chế, công nghệ, tài chính đến nhân lực và cơ sở hạ tầng. Đây cũng là lĩnh vực đặt ra yêu cầu đặc biệt cao về an toàn, chất lượng và quản lý rủi ro.
Phó Tổng Giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh cho biết, do tính chất tiên phong, còn nhiều nội dung chưa được quy định đầy đủ, do đó cần có cơ chế phù hợp, vừa tạo hành lang pháp lý thuận lợi, vừa bảo đảm nghiêm ngặt các yêu cầu về an toàn hạt nhân. Bên cạnh đó là bài toán vốn đầu tư, mô hình tài chính, tiến độ, chất lượng và quản lý rủi ro.
Dự kiến, hai tổ máy của dự án Ninh Thuận 1 sẽ đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030-2035. Mốc thời gian này đặt ra yêu cầu EVN phải kiểm soát chặt chẽ các yêu cầu về công nghệ, chất lượng và an toàn, không đánh đổi an toàn, chất lượng lấy tiến độ. Song song quá trình chuẩn bị dự án, EVN đang xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho các khâu từ quản lý dự án đến vận hành nhà máy. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông, cung cấp thông tin minh bạch nhằm tạo sự đồng thuận của chính quyền và người dân tại khu vực dự án.
Tại cuộc họp về tình hình triển khai Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư và chuẩn bị đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận là nhiệm vụ rất khó, chưa có tiền lệ và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phó Thủ tướng yêu cầu khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, hồ sơ, thủ tục để sớm triển khai dự án; đồng thời, các bộ, ngành cần chủ động nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đột phá, nhất là về phương thức đầu tư, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ…
Mở hướng với công nghệ mới
Bên cạnh các dự án điện hạt nhân quy mô lớn, công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đang được nhiều quốc gia nghiên cứu và thực hiện, mở thêm hướng tiếp cận đối với phát triển điện hạt nhân. Với quy mô nhỏ hơn, khả năng xây dựng theo mô-đun và thời gian thi công được kỳ vọng rút ngắn hơn, SMR có thể tạo ra cách tiếp cận linh hoạt hơn so các dự án điện hạt nhân công suất lớn. Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu công nghệ này được đặt trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao.
Ông Sergey Salata, Giám đốc kỹ thuật Công ty Star Energy Việt Nam cho rằng, sau một thời gian dài tạm dừng phát triển điện hạt nhân, Việt Nam cần một con đường linh hoạt và rủi ro thấp để tái gia nhập lĩnh vực này. Trong khi các dự án hạt nhân quy mô lớn đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu cao, thời gian xây dựng kéo dài và cấu trúc tài chính phức tạp, SMR và các lò phản ứng siêu nhỏ có thể cho phép triển khai từng bước, giảm áp lực vốn ban đầu, đồng thời tạo điều kiện tích lũy kinh nghiệm về quy định, quản lý và vận hành.
Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nêu rõ: khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào SMR. Đây là hướng mở thêm khả năng huy động nguồn lực xã hội cho phát triển công nghệ này, còn các dự án nhà máy điện hạt nhân công suất lớn vẫn có những yêu cầu riêng về đầu tư và quản lý.
Việc nghiên cứu SMR có thể mở thêm lựa chọn cho chiến lược phát triển điện hạt nhân của Việt Nam bên cạnh các dự án quy mô lớn đang được chuẩn bị. Tuy nhiên, việc tiếp cận công nghệ mới cũng đòi hỏi đi cùng với năng lực quản lý, khuôn khổ pháp lý và nguồn nhân lực phù hợp. Trong dài hạn, khi nhu cầu điện tiếp tục tăng, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và mục tiêu giảm phát thải đặt ra rõ nét hơn, điện hạt nhân có thể góp phần đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện và tăng khả năng chống chịu của hệ thống.
Với Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, nhiệm vụ trước mắt là hoàn thiện đồng bộ các điều kiện về thể chế, công nghệ, tài chính, nhân lực và hạ tầng, bảo đảm các yêu cầu cao nhất về an toàn và chất lượng. Cùng với đó, nghiên cứu các công nghệ mới như SMR mở thêm lựa chọn cho hệ thống năng lượng trong tương lai, đồng thời đặt ra yêu cầu Việt Nam tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường khả năng tự chủ về năng lượng.