Hội thảo đặt vấn đề phát triển điện khí LNG trong tổng thể chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn mới.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định năng lượng phải “đi trước một bước”, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia được xác định là nền tảng, tiền đề quan trọng cho phát triển đất nước; phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới.
Đối với LNG, Nghị quyết 70-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển cơ sở đầy đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng theo nhu cầu cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; đồng thời hình thành các trung tâm năng lượng tập trung khí LNG hài hòa giữa các vùng, miền.
Thực hiện các chủ trương này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW. Ngày 17/10/2025, Bộ Công thương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 328/NQ-CP, đồng thời phối hợp các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách; triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý cho phát triển năng lượng, trong đó có điện khí LNG.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2035, cả nước sẽ có 22 dự án nhiệt điện LNG được xây dựng, đưa vào vận hành. Riêng giai đoạn từ nay đến năm 2030 có 15 dự án triển khai, đưa vào vận hành thương mại với tổng công suất 22.524 MW. Đến nay, Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành thương mại, đóng góp cho lưới điện quốc gia về nguồn điện và tính ổn định của hệ thống.
Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công thương) cho rằng điện khí LNG là nguồn điện chuyển tiếp chiến lược, có vai trò bảo đảm cân đối cung - cầu điện năng, hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn, nâng cao độ ổn định, an toàn hệ thống điện và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
Vấn đề được đặt ra là khoảng cách giữa “công suất trong quy hoạch” và năng lực bảo đảm an ninh năng lượng thực tế.
Theo ông Bùi Quốc Hùng, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế-xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Điện thương phẩm năm 2030 dự kiến đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu khoảng 560,4-624,6 tỷ kWh; công suất cực đại khoảng 89.655-99.934 MW.
Đến năm 2030, tổng công suất nhiệt điện LNG theo quy hoạch là 22.524MW, chiếm khoảng 9,5-12,3% tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước. Quy hoạch cũng định hướng phát triển khoảng 2.000-3.000MW nguồn điện linh hoạt có khả năng khởi động nhanh, góp phần điều chỉnh phụ tải và duy trì ổn định hệ thống khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao.
Tuy nhiên, để các con số trong quy hoạch trở thành năng lực cung ứng điện thực tế, theo Cục Điện lực, cần đồng thời giải quyết nhiều vấn đề về cơ chế, tài chính, hạ tầng và tiến độ dự án.
Đáng chú ý là bài toán hợp đồng mua bán điện (PPA), giá điện và khả năng thu xếp vốn. LNG là nhiên liệu nhập khẩu, giá chịu tác động của thị trường quốc tế, chi phí vận chuyển, tỷ giá và các yếu tố địa chính trị, trong khi dự án điện khí có vốn đầu tư lớn và vòng đời dài. Vì vậy, cơ chế PPA cần đủ ổn định để nhà đầu tư huy động vốn dài hạn, nhưng cũng phải linh hoạt để hệ thống điện vận hành tối ưu và minh bạch trong kiểm soát chi phí.
Đại diện Cục Điện lực đồng thời đề nghị nghiên cứu các mô hình hạ tầng LNG dùng chung, nhất là cảng, kho LNG, hệ thống tái hóa và đường ống, hạn chế việc mỗi dự án phải đầu tư một hệ thống LNG riêng nếu điều kiện kỹ thuật và kinh tế cho phép dùng chung. Hạ tầng nguồn điện cũng phải được phát triển đồng bộ với lưới truyền tải, tránh tình trạng nhà máy hoàn thành nhưng thiếu đường dây truyền tải để giải tỏa công suất.
Đối với các dự án chậm tiến độ, cần nâng cao trách nhiệm nhà đầu tư, đồng thời có chế tài nghiêm đối với trường hợp đăng ký phát triển dự án năng lượng nhưng chậm hoặc không triển khai, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia.