Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp

Ngày 27/10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương) tổ chức Hội nghị phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực phía bắc. Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng dự và chỉ đạo hội nghị.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: BẢO HÂN)
Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: BẢO HÂN)

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021-2025, toàn ngành đã chủ trì, phối hợp triển khai 1.373 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Kết quả có 225 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản và lâm nghiệp mới được công nhận và đưa vào sản xuất; 150 tiến bộ kỹ thuật được ban hành; 158 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp phép; bước đầu xác định được 19 sản phẩm cơ bản đáp ứng tiêu chí sản phẩm công nghệ chiến lược. Mặt khác, có hơn 2.000 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, tuần hoàn, giảm phát thải được triển khai tại thực địa, góp phần giảm chi phí đầu vào và nâng cao thu nhập cho người sản xuất; hiệu quả kinh tế được ghi nhận tăng khoảng 10-30%.

Trong chuyển đổi số, toàn ngành đã hoàn thành xây dựng và từng bước vận hành 25 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chuyên ngành, đồng thời kết nối, liên thông trực tiếp với 12 cơ sở dữ liệu quốc gia. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để mở rộng ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp.

Tại khu vực miền bắc, một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng đã giải quyết những vấn đề thực tiễn, tiêu biểu là phát triển các bộ giống lúa thuần chất lượng cao, chịu rét, giống ngô sinh khối, công nghệ sản xuất vaccine thú y phòng, chống dịch tả lợn châu Phi. Với lợi thế về hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, nguồn gen bản địa phong phú và sự đa dạng của các vùng sinh thái, miền bắc có nhiều điều kiện để phát triển giống mới, nâng cao chất lượng nông sản và hình thành các chuỗi ngành hàng có giá trị gia tăng cao.

Ở góc độ địa phương, theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên Lại Văn Hoàn, giai đoạn 2021-2026, tỉnh đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng. Hiện nay, trên địa bàn có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có giá trị kinh tế và thương hiệu trên thị trường như: lúa chất lượng cao, nhãn, vải, cây ăn quả, rau màu, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản.

"Đối với sản xuất lúa gạo, giai đoạn 2021-2026, tỉnh chú trọng nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa và sử dụng hiệu quả vật tư đầu vào. Trong đó tổ chức tập huấn áp dụng VietGAP tại 6 mô hình; đánh giá, chứng nhận VietGAP, VietGAHP cho 5 mô hình lúa gạo; đồng thời, triển khai 41 lớp tập huấn, chuyển giao công nghệ thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản nông sản cho 1.350 lượt người dân", Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên Lại Văn Hoàn nhấn mạnh.

bo-truong-nong-nghiep-va-moi-truong-phat-bieu-tai-hoi-nghi-anh-bao-han-5834.jpg
Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: BẢO HÂN)

Toàn tỉnh xây dựng được 130 mô hình sản xuất lúa và rau màu tập trung từ 5ha trở lên với diện tích là 12.250ha. Trong đó các mô hình có liên kết trong sản xuất lúa là 8.900ha, liên kết trong sản xuất cây rau màu là 550ha. Nhìn chung, các mô hình sản xuất tập trung đã tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng cơ giới hóa, tiết kiệm chi phí vật tư nguyên liệu đầu vào, mang lại hiệu quả cao hơn sản xuất đại trà từ 1,3 đến 1,5 lần.

Ở góc độ nghiên cứu, trong giai đoạn 2021-2025, các đơn vị thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có 215 giống cây trồng mới được công nhận hoặc công bố theo các hình thức tương ứng, riêng 6 tháng năm 2026 có thêm 21 giống. Để tạo ra các giống cây trồng này, nghiên cứu đã từng bước tập trung ứng dụng chỉ thị phân tử để phát triển trên nhiều nhóm cây trồng gồm lúa, ngô, cây lương thực và thực phẩm khác, rau, hoa, cây công nghiệp và cây ăn quả theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, rút ngắn thời gian sinh trưởng, cải thiện khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, đồng thời đáp ứng nhu cầu sản xuất và thị trường.

Tuy nhiên, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào nông nghiệp còn gặp nhiều điểm nghẽn. Trong đó, lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật tăng trưởng theo chiều rộng đã gần tới hạn; quỹ đất khó mở rộng, trong khi năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng giữa các vùng còn chênh lệch; sản xuất nhỏ, phân tán; liên kết nông dân-hợp tác xã-doanh nghiệp-chế biến-logistics chưa bền vững, làm tăng chi phí và khó chuẩn hóa dữ liệu…

Ở lĩnh vực chăn nuôi, thú y quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, hạ tầng cơ sở vật chất cho chăn nuôi và năng lực số của người chăn nuôi hạn chế, khó áp dụng công nghệ đồng bộ khoa học, công nghệ và an toàn sinh học; cơ sở dữ liệu ngành chưa liên thông theo thời gian thực, chưa xác thực chéo với VNeID, chưa kết nối với các cơ sở dữ liệu lĩnh vực khác liên quan và thiếu dữ liệu dự báo cung-cầu; dữ liệu số chưa đồng bộ, phân tán và chưa kết nối đa ngành ảnh hưởng đến việc quản lý, chỉ đạo, điều hành và sản xuất thông qua không gian số…

Giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, sinh thái, phát thải thấp, tuần hoàn và dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ. Tăng trưởng cần từng bước chuyển từ dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô sản xuất và khai thác tài nguyên sang nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và giá trị gia tăng. Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải chuyển mạnh từ lấy “số lượng nhiệm vụ, sản phẩm nghiên cứu làm trọng tâm” sang lấy “hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và giá trị thực tế tạo ra cho sản xuất làm thước đo”.

Trên cơ sở đó, ngành nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu phấn đấu nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế lên trên 55%; huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đạt 30-35% tổng nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và nhân rộng; bảo đảm ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ công tác quản lý nhà nước. Cùng với đó, định hướng hình thành tối thiểu 5 trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo hoặc thử nghiệm, trình diễn công nghệ gắn với vùng sinh thái và chuỗi giá trị.

pho-thu-tuong-chinh-phu-phat-bieu-ket-luan-hoi-nghi-anh-bao-han-4187.jpg
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu kết luận hội nghị. (Ảnh: BẢO HÂN)

Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các Bộ: Công an, Khoa học và Công nghệ khẩn trương rà soát, đánh giá hiện trạng hoạt động khoa học, công nghệ trong ngành nông nghiệp; xác định kế hoạch, danh mục các vấn đề lớn cần giải quyết, phù hợp lợi thế và yêu cầu phát triển của ngành, nhất là tại khu vực phía bắc; các lĩnh vực ưu tiên như: giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, phòng, chống dịch bệnh, ứng dụng công nghệ vào sản xuất; chuẩn hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, sản xuất nông nghiệp gắn bảo vệ môi trường và kinh tế tuần hoàn. Mặt khác cần đổi mới mạnh mẽ, thực chất cơ chế liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất theo chuỗi giá trị.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần giữ vai trò đầu mối, kết nối nhu cầu phát triển của các ngành hàng, các địa phương với doanh nghiệp; đồng thời, chủ trì có hiệu quả các chương trình liên kết theo chuỗi gồm: Chương trình giống, canh tác thông minh, chế biến sâu, chăn nuôi an toàn sinh học, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, dược liệu, chế biến nông sản…

Phó Thủ tướng cũng đề nghị các bộ liên quan cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tài chính và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hạ tầng dùng chung; đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường phục vụ cho quản lý, sản xuất. Các cơ quan liên quan cần tăng cường kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu, trong đó có dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất, trong đó, cần xác định rõ cơ quan quản lý dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế khai thác, chia sẻ, bảo đảm thông tin đầy đủ, kịp thời, có khả năng liên thông, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp, hợp tác xã cần chủ động đăng ký nhu cầu công nghệ, năng lực đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…

Có thể bạn quan tâm