Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu phát triển hệ thống y tế hiện đại, công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Để đạt mục tiêu đó, cần thực hiện nhiều giải pháp: Đầu tư trung tâm y tế chuyên sâu gắn với nâng cao chất lượng toàn hệ thống; đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế...
Chinh phục những dấu mốc mới
Tháng 8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực hiện thành công ca ghép đồng thời tim-phổi, không chỉ đem lại sự sống cho người bệnh mà còn khẳng định trình độ chuyên môn của thầy thuốc Việt Nam nói chung và lĩnh vực ngoại khoa nói riêng. Ca mổ thành công đã ghi dấu mốc Việt Nam trên bản đồ y học thế giới. Tiếp nối hành trình ghép các mô, tạng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vừa thực hiện thành công ghép dương vật từ người cho chết não. Đây là ca ghép đầu tiên tại Việt Nam (ca thứ sáu được báo cáo trên y văn thế giới).
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chia sẻ, do đây là ca ghép đầu tiên tại Việt Nam, nên ê-kíp chuẩn bị rất kỹ về chuyên môn, xây dựng quy trình, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và phối hợp nhiều chuyên khoa (ghép tạng, nam học, vi phẫu, gây mê hồi sức, miễn dịch, giải phẫu bệnh). Bên cạnh kỹ thuật phẫu thuật, ca ghép áp dụng đầy đủ các quy trình của ghép mô-tạng hiện đại và các bước được thực hiện theo đúng trình tự và phối hợp chính xác. Ca ghép không chỉ mang ý nghĩa điều trị cho một người bệnh mà còn khẳng định năng lực làm chủ kỹ thuật ghép mô phức hợp của đội ngũ bác sĩ Việt Nam; là tiền đề quan trọng để Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiếp tục phát triển các kỹ thuật ghép mô phức hợp, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và mang lại cơ hội phục hồi cho những người bệnh có tổn thương đặc biệt mà trước đây chưa có giải pháp tối ưu.
Một thành công khác cũng phải nhắc đến khi Sở Y tế Hà Nội và Sở Y tế Cần Thơ vừa phối hợp Hệ thống Y tế Vinmec triển khai thành công ca phẫu thuật robot hai chiều từ xa đầu tiên tại Việt Nam. Hai bệnh viện cách xa nhau gần 2.000km nhưng luân phiên đảm nhiệm cả vai trò trung tâm điều khiển lẫn cơ sở tiếp nhận người bệnh. Từng thao tác kỹ thuật của phẫu thuật viên ở đầu cầu này được tái hiện chính xác tuyệt đối trên cánh tay robot ở đầu cầu bên kia, cho phép hai bệnh viện luân phiên điều khiển toàn bộ tiến trình.
Ca phẫu thuật thứ nhất được thực hiện cho nữ bệnh nhân 15 tuổi đang điều trị tại Vinmec Cần Thơ. Thông qua hệ thống robot, các bác sĩ tại đầu cầu Vinmec Smart City Hà Nội trực tiếp điều khiển và phẫu thuật bóc tách triệt để khối u. Ca phẫu thuật thứ hai thực hiện cho một bệnh nhân nam giới 42 tuổi điều trị tại Vinmec Smart City với chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan trên nền viêm gan B mạn tính. Sau 4 tiếng can thiệp cùng các thao tác robot nhịp nhàng từ xa của các bác sĩ từ đầu cầu Cần Thơ, ca phẫu thuật đã thành công cho thấy năng lực vận hành, chuẩn hóa quy trình chuyên môn, hạ tầng công nghệ cũng như phối hợp đa chuyên khoa đồng bộ và chuyên nghiệp.
Đây là nền tảng để hình thành mạng lưới “ngoại khoa không khoảng cách”, cho phép các chuyên gia đầu ngành trực tiếp tham gia điều trị cho người bệnh ở nhiều cơ sở khác nhau mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý.
Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Trọng Diện đánh giá: Thành công của hai ca phẫu thuật robot từ xa hai chiều là một đột phá rất lớn với y học Việt Nam trong ứng dụng công nghệ tiên tiến kỹ thuật cao. Kết quả này là tiền đề lớn cho hệ thống y tế Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung ứng dụng khoa học-công nghệ vào khám, chữa bệnh từ xa và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Ưu tiên lĩnh vực có khả năng đột phá
Theo đánh giá của các chuyên gia, y tế Việt Nam đang có nhiều lợi thế để phát triển thời gian tới. Lợi thế trước hết và quan trọng nhất là con người, khi đội ngũ thầy thuốc được đào tạo bài bản, giàu kinh nghiệm thực tiễn, có khả năng tiếp cận nhanh và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến. Trong nhiều lĩnh vực, các chuyên gia Việt Nam không chỉ thao tác thành công kỹ thuật được chuyển giao mà còn cải tiến quy trình, thích ứng với điều kiện thực tế và đào tạo lại cho đồng nghiệp. Lợi thế thứ hai là quy mô và sự đa dạng của thực hành lâm sàng. Với dân số hơn 100 triệu người, mô hình bệnh tật đa dạng hoàn toàn có thể triển khai nghiên cứu lâm sàng ở nhiều lĩnh vực.
Một lợi thế khác là Việt Nam có mạng lưới y tế tương đối hoàn chỉnh, với sự tham gia của các bệnh viện thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và khu vực ngoài công lập. Chi phí khám, chữa bệnh tại Việt Nam khá thấp so với nhiều quốc gia, trong khi chất lượng chuyên môn ở một số lĩnh vực đã đạt trình độ cao. Đây là cơ hội để giữ người bệnh trong nước và từng bước thu hút người bệnh quốc tế, nhất là trong những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa quốc gia cho rằng cần triển khai nhiều nhóm giải pháp trọng tâm: xây dựng cơ chế đánh giá dựa trên kết quả điều trị, an toàn người bệnh, mức độ hài lòng, hiệu quả sử dụng nguồn lực, chất lượng nghiên cứu, năng lực đào tạo và chuyển giao kỹ thuật; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng xây dựng các ê-kíp, nhóm chuyên môn, thay vì chỉ phụ thuộc vào một vài cá nhân xuất sắc.
Giai đoạn tới, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được coi là động lực trực tiếp của y tế chuyên sâu, trong đó tập trung vào những lĩnh vực Việt Nam có khả năng tạo bước đột phá như: y học chính xác, công nghệ gen, công nghệ tế bào, y học tái tạo...