Ghi nhận mức tăng trưởng 8,18% trong nửa đầu năm 2026, bức tranh kinh tế Việt Nam đang cho thấy những gam màu sáng từ sự dẫn dắt của các trung tâm kinh tế lớn và các lĩnh vực then chốt. Dù vậy, áp lực từ bối cảnh trong và ngoài nước đòi hỏi những quyết sách linh hoạt, quyết liệt.
Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính để nhận diện các động lực, khó khăn và giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông điểm nghẽn, đánh thức các động lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm, hướng đến tăng trưởng hai con số như mục tiêu đề ra.
Dấu ấn từ các địa phương trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm
Phóng viên: Số liệu GDP quý II và 6 tháng đầu năm 2026 vừa công bố ghi nhận mức tăng trưởng khá ấn tượng. Bà đánh giá như thế nào về kết quả tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố trong việc đóng góp vào tăng trưởng chung của cả nước?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm với GDP tăng 8,18% (cao hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức tăng 7,63% cùng kỳ năm 2025). Đây được coi là kết quả tăng trưởng khá ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bất ổn và nhiều rủi ro gia tăng.
Trong đó, tăng trưởng quý II và 6 tháng của các khu vực kinh tế lần lượt là: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06% và 3,87%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51% và 9,81%; khu vực dịch vụ tăng 7,87% và 8,09%.
Kết quả này cho thấy nền kinh tế tiếp tục phục hồi, duy trì được nhịp tăng trưởng tương đối ổn định, phản ánh những nỗ lực lớn trong điều hành và tinh thần vượt khó khăn của cả nền kinh tế.
Đối với tăng trưởng GRDP các địa phương, nhìn chung trong quý II và 6 tháng năm 2026 tiếp tục xu hướng tích cực, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố có nền tảng về công nghiệp, cơ sở hạ tầng được đầu tư bài bản, du lịch và dịch vụ khởi sắc. Nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng cao tập trung ở các tỉnh mạnh về công nghiệp chế biến, xuất khẩu, du lịch.
Kết quả ước tính GRDP 6 tháng 2026 cho thấy những kết quả tích cực thể hiện qua một số số liệu như: 9/34 tỉnh đạt tốc độ tăng GRDP cao hơn 10% gồm: Hà Tĩnh (12,79%), Ninh Bình (11,44%); Hải Phòng (11,33%); Quảng Ninh (11,11%); Hưng Yên (10,72%), Bắc Ninh (10,56%); Phú Thọ (10,18%), Tây Ninh (10,12%); Thái Nguyên (10,01%);
Có 5 tỉnh có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trưởng GRDP của cả nước trong quý II và 6 tháng: Thành phố Hồ Chí Minh (21,78% và 21,9%); Thành phố Hà Nội (11,59% và 11,71%); Thành phố Hải Phòng (7,53% và 7,51%); tỉnh Bắc Ninh (5,76% và 5,32%); tỉnh Đồng Nai (5,73% và 5,89%).
Một số tỉnh tăng trưởng cao như Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Tây Ninh, Thái Nguyên, nhờ năng lực mới tăng thuộc các lĩnh vực như nhà máy xe máy điện VinFast, sửa chữa và hoàn thiện Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, và đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng; Nhà máy dệt công ty TNHH dệt may Bắc Giang Việt Nam ở Quảng Ninh; Dự án xây dựng nhà xưởng nhà máy sản xuất tất Công ty TNHH Great Market Global Việt Nam, Xây dựng nhà máy may Nice Power; Khu công nghiệp Thăng Long II, Phố nối A, Yên Mỹ tại Hưng Yên, Nhà máy sản xuất và hoàn thiện sản phẩm dệt nhuộm các loại, nhà máy Dalton tại Tây Ninh, Nhà xưởng, kho bãi hàng hóa Thép Hòa Phát Long An, dự án đầu tư chăn nuôi lợn sinh sản công nghệ cao giai đoạn II Thái Nguyên.
Tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố tác động trực tiếp và quyết định đến tăng trưởng GDP của cả nước. Các địa phương có quy mô kinh tế lớn đóng vai trò "trụ cột", lan tỏa và dẫn dắt đà tăng trưởng chung.
Thách thức từ những biến động của kinh tế toàn cầu
Phóng viên: Bên cạnh kết quả tích cực đã đạt được trong thời gian qua, không thể phủ nhận Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thách thức đến từ kinh tế quốc tế và trong nước. Điều này sẽ tác động đến mục tiêu tăng trưởng từ hai con số mà Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra như thế nào, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh
Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8,18% cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cả năm.
Bên cạnh những nút thắt mang tính hệ thống, thể chế hoặc cấu trúc nội tại, nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với các thách thức do áp lực thị trường, xu hướng phát triển và biến động của bối cảnh kinh tế thế giới. Cụ thể:
Ổn định kinh tế vĩ mô: Kinh tế vĩ mô sẽ chịu áp lực lớn từ việc thay đổi trạng thái xuất siêu sang nhập siêu khi nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu tăng cao hoặc giá cả hàng hóa thế giới biến động. Tình trạng này sẽ tạo áp lực trực tiếp lên cán cân thanh toán, quản lý tỷ giá, dự trữ ngoại hối và gia tăng rủi ro lạm phát nhập khẩu.
Áp lực thị trường: Xuất phát từ sự sụt giảm niềm tin và thay đổi hành vi mang tính khách quan của cả người tiêu dùng lẫn doanh nghiệp. Sức mua nội địa suy yếu do thu nhập bị ảnh hưởng khiến dòng tiền lưu thông trong khu vực thương mại dịch vụ bị chậm lại, đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về đầu ra. Đồng thời, áp lực cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu và sự phân hóa năng lực sản xuất khiến các doanh nghiệp nội địa, vốn đang thiếu vốn, càng dễ bị tổn thương và có nguy cơ bị thu hẹp thị phần ngay trên sân nhà
Áp lực điều hành: Các cơ quan quản lý đang ở thế khó khi phải cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô đang bị xung đột. Điển hình là việc vừa phải nới lỏng chính sách tiền tệ, giảm lãi suất để kích cầu tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp, vừa phải thắt chặt kiểm soát để kiềm chế lạm phát nhập khẩu và giữ ổn định tỷ giá. Sự dịch chuyển trạng thái cán cân thương mại hay các biến động tài chính toàn cầu buộc nhà điều hành phải đưa ra những quyết sách cực kỳ linh hoạt, chính xác về cả liều lượng lẫn thời điểm để tránh gây sốc cho nền kinh tế.
Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay tạo ra áp lực lớn khi các thị trường xuất khẩu chủ lực suy giảm tổng cầu, trực tiếp thu hẹp đơn hàng và nguồn thu ngoại tệ của các quốc gia định hướng xuất khẩu. Đồng thời, xu hướng duy trì lãi suất neo cao từ các ngân hàng trung ương lớn và sự leo thang của chi phí logistics toàn cầu làm gia tăng áp lực lạm phát nhập khẩu, gây bất ổn cho tỷ giá và chuỗi cung ứng trong nước.
Đánh thức các nguồn lực để tạo đà bứt tốc
Phóng viên: Bên cạnh những khó khăn, thách thức, chúng ta có dư địa và những động lực nào để tiếp tục đà tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh
Bước sang 6 tháng cuối năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Đà phục hồi của nền kinh tế tiếp tục được củng cố nhờ ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất công nghiệp và khu vực dịch vụ duy trì xu hướng tăng, đầu tư công được đẩy mạnh và môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện.
Những dư địa, động lực có thể kể đến như:
Một là đầu tư công tiếp tục là một trong những động lực quan trọng nhất. Nếu giải ngân đúng tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm sẽ vừa tạo tổng cầu, vừa nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế;
Hai là công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực từ sản xuất đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng. Khi đơn hàng xuất khẩu tiếp tục cải thiện và chuỗi cung ứng ổn định hơn, khu vực này có khả năng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng;
Ba là tiêu dùng trong nước và du lịch: Với quy mô thị trường gần 100 triệu dân, cùng sự phục hồi của dịch vụ và du lịch, đây là nguồn lực quan trọng để bù đắp những biến động từ bên ngoài;
Bốn là khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài: Môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư và mở rộng sản xuất;
Năm là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là những yếu tố có khả năng nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo dư địa tăng trưởng mới, phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ trong giai đoạn tới.
Có thể thấy rằng, dư địa tăng trưởng của nền kinh tế vẫn còn. Vấn đề quan trọng là khai thác hiệu quả các động lực hiện có, đồng thời tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn để chuyển hóa các tiềm năng thành kết quả tăng trưởng thực tế trong 6 tháng cuối năm.
5 nhóm giải pháp trọng tâm để "về đích" với mức tăng trưởng hai con số
Phóng viên: Chính phủ đặt quyết tâm tăng trưởng từ 10% trong năm nay. Để đạt được mục tiêu này, Nghị quyết 68/NQ-CP (ban hành ngày 27/6/2026) đã đặt ra kịch bản điều hành với mục tiêu GDP 6 tháng cuối năm phải tăng 11,9%. Đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay. Trong 6 tháng cuối năm cần thực hiện những giải pháp quyết liệt nào, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh
Trên cơ sở kết quả tăng trưởng GDP quý II và 6 tháng, Cục Thống kê cập nhật kịch bản tăng trưởng theo Nghị quyết 01/2026/NQ-CP như sau:
Quý I tăng 7,94%; Quý II tăng 8,39% và 6 tháng tăng 8,18%;
Như vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% cả năm 2026, thì 6 tháng cuối năm cần đạt 11,7%.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định. Để chạm được mục tiêu kỳ vọng, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp ưu tiên triển khai quyết liệt các nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm. Ưu tiên hàng đầu là khẩn trương triển khai gia hạn thuế, phí và đặc biệt là đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế VAT nhằm giải phóng tức thời dòng tiền lưu động cho khối tư nhân. Ở cấp địa phương, cần quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn để bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm gắn trực tiếp với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Song song đó, chính sách tiền tệ cần linh hoạt, duy trì ổn định mặt bằng lãi suất; hướng dòng vốn tín dụng mạnh mẽ vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt nhắm trúng đích vào khối xuất nhập khẩu, công nghiệp hỗ trợ và logistics.
Thứ hai, thúc đẩy sản xuất, thương mại và hoàn thiện thể chế. Yêu cầu cấp thiết là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, cắt giảm thực chất thủ tục hành chính và chi phí logistics. Trong đó, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật mới (như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Kinh doanh Bất động sản) nhằm lấp đầy khoảng trống pháp lý. Tại thị trường nội địa, cần đẩy mạnh các chương trình kích cầu tiêu dùng, xúc tiến du lịch. Về xuất khẩu, cần chủ động đa dạng hóa thị trường, cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật, tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do để duy trì đà tăng trưởng và xử lý hiệu quả hiện tượng nhập siêu.
Thứ ba, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển bền vững. Bảo đảm tuyệt đối an ninh năng lượng, không để thiếu điện cho sản xuất trong mọi tình huống. Khẩn trương tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản, nhà ở xã hội và công nghiệp. Đối với nông nghiệp, cần chủ động kịch bản ứng phó thiên tai (hạn hán, El Nino) và tập trung xử lý dứt điểm "thẻ vàng" IUU để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản.
Thứ tư, nỗ lực tự thân của cộng đồng doanh nghiệp. Trước áp lực biến động chuỗi cung ứng và cước vận tải biển tăng cao, doanh nghiệp phải chủ động linh hoạt quản trị rủi ro, đa dạng hóa nguồn cung và thắt chặt quản trị hàng tồn kho. Quan trọng hơn, việc tuân thủ các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) và định hình chiến lược sang mô hình kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải đã trở thành yêu cầu bắt buộc để vượt qua rào cản kỹ thuật quốc tế, giúp doanh nghiệp chen chân sâu hơn vào chuỗi giá trị của khối FDI.
Thứ năm, khơi dậy các động lực mới. Hoàn thiện, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào các ngành kinh tế chiến lược (như cơ khí chế tạo, vật liệu, khai khoáng) và khai thác các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh cốt lõi.
Việc thực thi đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo nền tảng vững chắc để nền kinh tế bứt phá, hoàn thành xuất sắc mục tiêu tăng trưởng của năm 2026.