Người Mông xuống núi

Pu Quặc một thời

Trên đỉnh Pu Quặc có thể nhìn thấu sang Mường Moọc, Noọng Hét tỉnh Xiêng Khoảng nước Lào, nhìn thấy cả mường Trung Châu (miền xuôi). Nơi đây là căn cứ trọng yếu án ngữ cả một vùng trên quốc lộ 7A từ trên xuống, dưới lên... Người già bảo từ xa xưa ai thống lĩnh được Pu Quặc là làm vua của cả một vùng. Nghe kể hồi trước một thủ lĩnh có uy tín thống soái cả một vùng kêu gọi người Mông đứng lên đánh đuổi "xắc tu" (giặc). Trên Pu Quặc bao đời rồi người dân vẫn khổ, hiếm cái nước, khổ cái đường không rộng đi lại phải chui luồn như con mang, con nai. Con em không có trường học cái chữ, "theo dấu chân nai đi tìm hạt lúa, theo dấu chân cọp đi tìm hạt ngô", quanh năm đói cơm lạt muối... Nghe kể làm tôi gợi nhớ câu chuyện buồn "người Mông sợ nước" mà mãi sau lần trở lại bản Lưu Thông mới hiểu kỹ rằng chuyện sợ nước của người Mông chỉ do người ta tự phóng tác bởi ở trên núi cao không quen sông sâu, biển cả nên người Mông không biết bơi. Năm 1992, tôi được "Nỏ pê chạu" (ăn Tết) - cái Tết đầu tiên của 35 hộ người Mông rời đỉnh Pu Quặc, vùng đất chôn nhau cắt rốn và bỏ nương thuốc phiện xuống vùng đất thấp lập bản dựng mường mới. Sau vách liếp lưa thưa của những căn nhà tạm dựng vội vã trên nền đất mới, những ánh mắt tò mò của lũ trẻ nít, cặp mắt xét nét của người lớn nhìn đoàn khách lạ. Ðêm họ hốt hoảng trước lóe chớp của đèn plát máy ảnh. Trong đì đoàng tiếng súng kíp nổ đón giao thừa, chúng tôi giật mình bật dậy giữa bốn bề sương giăng. Sau ngày vui vạn sử khởi đầu nan nơi bản mới, ai cũng hoài nghi bởi trong tính cách của người Mông không quen ở một chỗ, thích tự do phóng túng. Lần đầu ai dám chắc họ sẽ vĩnh viễn không nhấc chiếc chảo gang ra khỏi lò trở lên Pu Quặc với nương thuốc phiện? Từng sống với họ sẽ hiểu tính cách người Mông thường bí mật gọi nhau đi khi không còn thích nơi ở cũ. Khi chiếc chảo gang được nhấc ra khỏi lò thì không ai ngăn giữ được họ ở lại. Người Mông cũng thường cả tin, đã tin ai thì tin đến cùng sẵn sàng xả thân vì nghĩa cho bạn bè, tập thể.

Ngày mới dưới chân Pu Quặc

Từ thị trấn Hòa Bình, Trung tâm huyện Tương Dương ngược quốc lộ 7A qua trung tâm xã Lưu Kiền, sang hết cầu Tẳn Xà, rẽ phải vào đến bản Lưu Thông chỉ mất một tiếng rưỡi. Khoảng 5 km con đường xuyên qua cánh rừng đại ngàn vào Lưu Thông bây giờ thay con đường nhỏ chỉ đặt được bàn chân trước đây tuy còn gồ ghề nhưng đã được mở rộng, nếu khô ráo xe Mít-xu-bi-xi lướt ngon lành tận hộ cuối bản. Bản mới Lưu Thông nằm trong lũng núi tương đối bằng. Khác với hơn 10 năm về trước, từ xa chúng tôi thấy sau rặng xoài, đào, mít, dừa là những mái nhà đất kê thưng ván lợp ngói. Ngay đầu bản lũ trẻ nít nô giỡn bên những bể nước lớn tràn trề. Cây pơ lang cổ thụ vỏ sần sùi vẫn hằn hiện với thời gian. Ngay cạnh gốc mầu xám bạc không còn đìu hiu quạnh vắng như xưa vì lúc này đã có nhà kiêm cửa hàng tạp hóa của chị Mùa Y Bô và anh Vừ Lỳ Phỏng. Mấy anh bạn đồng nghiệp đi cùng thốt lên, "bản Lưu Thông sạch đẹp quy củ không thua kém gì làng người Kinh dưới xuôi". Trưởng bản Vừ Vả Rùa không giấu nổi niềm vui, anh nói: "Năm 1992 cùng 35 hộ 295 khẩu từ Pù Quặc xuống, lúc đầu vất vả lắm! Ba dòng họ Vừ, Lầu, Thò được Nhà nước hỗ trợ mỗi hộ 800 nghìn đồng nghe theo cán bộ định canh, định cư chia đất sắp xếp nơi ăn ở có hàng có lối, tổ chức làm vườn nhà, vườn rừng, sản xuất thâm canh rẫy dốc. Năm 1994, được tổ chức OXPAM  Bỉ tài trợ làm công trình nước sạch, Nhà nước hỗ trợ mở đường bà con rất phấn khởi. Từ năm 1996 đến nay cuộc sống dần ổn định. Bây giờ thì bản Lưu Thông hết đói rồi chỉ phấn đấu làm giàu thôi. Làm được nhà kê lợp ngói cũng nhờ từ năm 2000 đến nay được vay vốn mỗi hộ 5 triệu đồng qua Ngân hàng Chính sách xã hội để chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, đào ao nuôi cá. Xuống đây, người Mông học được cách chăn nuôi bò vỗ béo. Họ Vừ biết trước bày cách cho họ Lầu, họ Thò học theo, cứ thế hộ này học theo hộ khác trồng cỏ voi, cỏ sữa nuôi bò vỗ béo, bò sinh sản, đào ao nuôi cá... Hiện nay bản có 117 con bò vỗ béo, 42 ao cá. Anh Rùa cho biết, sau một tháng vỗ béo lãi mỗi con một triệu đồng là thấp nhất. Trưởng bản phải làm gương nuôi trong chuồng sáu con bò vỗ béo, nhiều nhất bản. Ngoài ra trên diện tích luân canh rẫy lúa, bà con còn trồng xen bầu, bí xanh. Bình quân mỗi hộ thu  hoạch 9-10 tấn bí xanh/năm. Trâu, bò, lợn, gà, bí xanh, mơ... gần Tết bà con tranh thủ đi hái lá dong về bán, thuận đường xe ô-tô đến tận bản thu mua. Hiện nay trong bản chỉ còn ba hộ nhà tranh, phấn đấu năm nay sẽ xóa xong. Anh Rùa vui vẻ dẫn chúng tôi đi thăm trường học: "Bản ta đã hết mù chữ rối nhé! Xuống đây con em bản Lưu Thông đã có hai người là Vừ Bá Mùa, Vừ Bá Chò làm cán bộ công an huyện, Xồng Nỏ Của làm giáo viên. Từ năm 2002 có sáu phòng học từ lớp mẫu giáo đến lớp 5 kiên cố được xây dựng bằng nguồn kinh phí Chương trình 135. Hiện nay bản Lưu Thông có 11 em đang học THPT, 17 em học THCS. Chúng tôi gặp cô giáo Lô Thị Hằng đang phụ trách lớp mẫu giáo 12 em. Từ huyện Con Cuông lên đây công tác "cắm" bản Lưu Thông, hạnh phúc cũng đã đến với cô. Huyện vùng cao Tương Dương bây giờ đã trở thành quê hương thứ hai của cô.

Theo thống kê của Trưởng bản Vừa Vả Rùa, bản đã có 15 chiếc xe máy, một nửa số hộ trong bản có tổng thu nhập 20 triệu đồng/năm. So với nhiều nơi khác thì chưa phải cao, nhưng với đồng bào Mông rời vùng đất quanh năm mây phủ xuống đây tạo dựng lại cuộc đời đã là một kỳ tích. Trước khi rời bản Lưu Thông, Trưởng bản Rùa gửi những mong mỏi của bà con là, dù đã có đường nhưng chỉ mới đi được một mùa khô. Vừa qua bản được Nhà nước quan tâm lắp cái chảo pa-ra-bôn rồi, nhưng không có điện phát, hai năm nay rồi không được xem. Bà con mong sớm có điện để được xem "cái" truyền hình, hiểu thêm về đường lối chính sách của Ðảng, xem để biết và học cách làm ăn tiến bộ của bà con ở bản dưới, mường trên...

Ấn tượng nhất đối với chúng tôi khi đến nhà ông Trưởng bản Vừ Vả Rùa thấy treo ngay trước cửa tấm bảng ghi kế hoạch làm việc của cán bộ bản vào các thứ 2, 4 và thứ 6. Và trước khi chào để về xuôi, ông còn cố mời chúng tôi ở lại một đêm uống rượu với cá ao, đặc sản mới của bản, xem một số tiết mục của đội văn nghệ biểu diễn có ý như muốn giới thiệu với mọi người về kỳ tích mới của người Mông dưới chân Pu Quặc. "... Có thương nhau thì ở lại với nhau một đêm..., Hẹn nhé lần sau...!" Xa rồi chúng tôi vẫn nghe giai điệu thiết tha ấy qua tiếng đàn môi của một người con gái dưới tán đào vọng lại.

Có thể bạn quan tâm