Từ lợi thế đàn vật nuôi đến bài toán giá trị
Trên những triền đồi khô nắng phía nam tỉnh Khánh Hòa, đàn dê, cừu từ lâu đã gắn bó với sinh kế người dân. Điều kiện tự nhiên phù hợp và nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tạo lợi thế để phát triển chăn nuôi. Đến tháng 9/2026, toàn tỉnh có khoảng 210.000 con, trong đó 116.000 con dê và 94.000 con cừu; đàn cừu tiếp tục đứng đầu cả nước.
Thế nhưng, quy mô đàn lớn chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế cao. Phần lớn hộ nuôi chỉ duy trì từ 5-50 con, số trang trại sản xuất theo quy trình đồng bộ còn ít. Liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường chưa chặt chẽ; hệ thống giết mổ tập trung, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu chưa phát triển tương xứng.
Áp lực còn đến từ mùa khô kéo dài, bãi chăn ngày càng thu hẹp, nguồn cỏ và nước suy giảm. Nếu tăng đàn mà không gắn với quy hoạch vùng nuôi, diện tích trồng cỏ và khả năng cung cấp nước, lợi thế tự nhiên có thể trở thành sức ép đối với hiệu quả sản xuất.
Đáng chú ý, dê, cừu chủ yếu được tiêu thụ qua thương lái và cơ sở thu mua, khiến giá bán dễ biến động. Sau nhiều tháng chăm sóc, công sức người nuôi phần lớn vẫn được tính bằng trọng lượng vật nuôi khi xuất chuồng. Các khâu giết mổ, pha lóc, chế biến, đóng gói, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu chưa tạo được giá trị gia tăng tương xứng.
Theo ông Phan Đình Thịnh, Chi cục trưởng Chăn nuôi và Thú y tỉnh, hướng đi lâu dài là chuyển từ “phát triển đàn” sang “phát triển ngành hàng”, từ bán sản phẩm thô sang cung ứng sản phẩm có thương hiệu, giá trị gia tăng cao và khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn.
Chất lượng con giống cũng cần được cải thiện. Thạc sĩ Nguyễn Đức Điện (Trường đại học Tây Nguyên) cho rằng, quy mô đàn chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả chăn nuôi. Việc thiếu theo dõi nguồn gốc cá thể và quá trình sử dụng đực giống có thể làm tăng nguy cơ giao phối cận huyết, ảnh hưởng đến chất lượng đàn vật nuôi. Do đó, cải thiện giống cần dựa trên khả năng sinh sản, nuôi con, tăng trưởng và sức khỏe của đời con trong điều kiện chăn nuôi thực tế. Việc sử dụng giống ngoại hoặc con lai để nâng tầm vóc, tăng trọng cũng phải được tính toán phù hợp. Quan trọng hơn, người nuôi cần hạch toán đầy đủ số lượng con xuất bán, khối lượng, giá bán và chi phí thức ăn, thú y để xác định lợi nhuận thực chất, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đàn.
Tổ chức chuỗi liên kết, mở rộng thị trường
Tại Thạch Bàn Farm, xã Mỹ Sơn, ông Nguyễn Đình Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH NBEE FEED đang tìm cách gia tăng giá trị đàn vật nuôi. Trang trại sử dụng dê đực Boer phối với dê Bách Thảo; các dòng cừu Dorper, Suffolk, Merino được phối với cừu cái Phan Rang để tạo đàn lai thương phẩm.
Bên cạnh chú trọng con giống, trang trại chủ động phối trộn thức ăn nhằm giảm phụ thuộc vào cám công nghiệp, xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn. Một số dòng cừu được phát triển phục vụ du lịch sinh thái. Từ chăn nuôi đơn thuần, mô hình từng bước mở thêm hướng khai thác giá trị từ con giống, thịt thương phẩm, hoạt động trải nghiệm và phụ phẩm. Dù vậy, để những mô hình như thế lan tỏa, cần có quy hoạch vùng nuôi, chính sách hỗ trợ phù hợp và sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Ông Võ Văn Công, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Đề án phát triển sản phẩm dê, cừu thành sản phẩm Halal đến năm 2030 mở ra cơ hội đổi mới phương thức chăn nuôi, nâng cao chất lượng và giá trị ngành hàng. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng hình thành ít nhất 14 vùng chăn nuôi dê, cừu, quy hoạch khoảng 4.872 ha đất chăn nuôi tập trung, đồng thời thu hút đầu tư cơ sở giết mổ, chế biến công suất 200-300 con/ngày.
Theo chính sách hiện hành, hộ chăn nuôi được hỗ trợ tối đa 30% giá trị khi mua đực giống, không quá 3 triệu đồng/con; dự án trồng cây thức ăn được hỗ trợ 50% chi phí, tối đa 5 tỷ đồng/dự án; doanh nghiệp đầu tư cơ sở giết mổ có thể được hỗ trợ 60% kinh phí, tối đa 15 tỷ đồng/dự án. Tuy nhiên, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ và gắn với nhu cầu thị trường.
Theo đại diện Công ty Halal Hub Việt Nam, cần xác định thị trường, tiêu chuẩn sản phẩm và yêu cầu thu mua trước khi tổ chức vùng nuôi. Khi các mắt xích được kết nối, rủi ro đầu ra mới có thể từng bước giảm bớt. Đối với thị trường Halal, yêu cầu không dừng ở chứng nhận thành phẩm mà phải được bảo đảm xuyên suốt từ chăn nuôi, giết mổ, chế biến, bảo quản đến phân phối. Đây vừa là thách thức về tiêu chuẩn và tổ chức sản xuất, vừa là cơ hội để ngành dê, cừu Khánh Hòa nâng cấp quy trình, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Trước mắt, tỉnh định hướng đưa sản phẩm vào hệ thống nhà hàng, khách sạn, siêu thị, cơ sở chế biến và các kênh phân phối hiện đại, gắn với lợi thế du lịch quốc tế. Từ thị trường trong nước, ngành hàng có thể từng bước hoàn thiện chất lượng, tiêu chuẩn và năng lực cung ứng trước khi tiếp cận những thị trường xa hơn.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Lê Huyền cho biết: “Cùng với mục tiêu duy trì đàn dê, cừu lớn, tỉnh chú trọng việc tạo dựng một ngành hàng có tổ chức, thương hiệu và sức cạnh tranh. Khi con giống được cải thiện, vùng nuôi được quy hoạch, doanh nghiệp cùng người chăn nuôi chia sẻ trách nhiệm và sản phẩm được chế biến theo nhu cầu thị trường thì lợi thế tự nhiên mới thật sự chuyển hóa thành giá trị kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân”.