Trải qua sự biến thiên của thời gian, tục cúng đất ở mỗi địa phương tại miền trung đã có những điều chỉnh, biến đổi nhất định. Song, trong tâm thức của người dân nơi đây, phong tục này luôn gắn với thần linh của người tiền trú - những người từng sinh sống ở vùng đất này trước khi có sự kiện "hai châu Ô Rí/Lý vuông ngàn dặm" được nhà vua của đất nước Chăm Pa (Jaya Simhavarman III) lấy làm sính lễ để cưới Huyền Trân Công chúa (1306).
Mang theo hành trang nông nghiệp lúa nước từ miền bắc, đất đai luôn giữ vị trí quan trọng đối với người Việt trên từng bước đường hành phương nam tiếp nhận vùng đất mới. Vượt qua đèo Ngang, dải phù sa duyên hải Trung Bộ rõ ràng là miền đất hứa, là lý do để người Việt tụ cư lập làng. Với bản chất cố hữu của người nông dân, cho dù đã "an cư" sau một quá trình canh phá điền thổ dưới sự bảo trợ của triều đình, họ vẫn không thể không băn khoăn trước những mối đe dọa dưới dạng khuất lấp, khó lường của vùng "Ô châu ác địa". Và, nghi lễ cúng đất được di duệ của những người nam tiến duy trì cho đến ngày nay chính là mảnh thấu kính, mà qua đó, chúng ta sẽ phần nào soi thấu tâm lý, tình cảm của các lớp lưu dân vốn luôn tâm niệm "Ðất có thổ công, sông có hà bá".
Trong nghi lễ này, ngoài những thức cúng hiện diện trong hầu hết các nghi lễ của người Việt (hương, hoa, đăng, đèn, quả, phẩm) thì rau khoai luộc, chén nước ruốc (hoặc nước mắm nêm), gắp cá tôm nướng, tam sên (3 con cua, 3 miếng thịt ba chỉ, 3 quả trứng - tất cả đều luộc chín, bày trên ba đĩa) là những món không thể thiếu. Những món ăn này được dân gian giải thích là thức ăn dành cho "ma mọi" hay "mọi rừng", "ma núi"… Theo ghi nhận của Nguyễn Ðình Tư (1), ở Ninh Thuận, thức ăn còn được đặt trên những chiếc đĩa làm bằng bẹ chuối. Chi tiết dùng lá chuối làm đồ đựng thức ăn cũng được Lê Quang Nghiêm miêu tả trong lễ cúng Dàng do các thầy cúng người Chăm tổ chức ở vùng Khánh Hòa (2). Sự hiện diện của món ăn và cả cách bày biện món ăn phi Việt trong một nghi lễ của người Việt đã thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng văn hóa của chủ lễ (Việt) đối với những dân tộc tiền trú. Cho dù, đó là những sắc dân mà đối với họ, nói như học giả L.Cadière, "chỉ có một ký ức mơ hồ (…). Phần nhiều họ đã quên tên" (3).
Một chi tiết khác liên quan đến thức ăn là sau khi lễ tất, gia chủ sẽ đem mỗi thứ một ít trong mâm thức ăn bỏ vào xalet hoặc chiếc bè được làm bằng bẹ chuối, treo ở ngã ba đường (nếu là xalet) hoặc thả xuống sông (tống bè). Có ý kiến cho rằng, thức ăn đựng trong xalet là để dành cho những "man ri", "mọi rợ", "kẻ Chàm" không đến dự lễ kịp. Tuy nhiên, nội dung của văn khấn khi tống bè mà chúng tôi tiếp cận được Phú Yên đã phản ánh ý nghĩa của hành động này: (1) cung cấp lương thực để chư thần về nơi trú ngụ của mình (2) mang đi bệnh tật và tai nạn, để lại phước lành, khang thái lại cho gia chủ.
Một biểu tượng thường là một thứ hồi tưởng về một cái gì đó bởi chúng sở hữu các tính chất giống nhau, hay bởi mối quan hệ trong thực tế hoặc tư duy (4). Biểu tượng mang tính hồi tưởng trong nghi lễ cúng đất của người Việt ở miền trung là những sự vật được người thực hành nghi lễ diễn giải gắn liền với dấu ấn của những sắc dân mà họ cùng chung sống trong lịch sử ở xứ Ðàng Trong. Và, chúng ta có thể thấy ở đây một lối hành xử đầy nhân văn, tôn trọng Thần và Người thuộc các sắc dân tiền trú ở vùng đất mới của người Việt.
----------------------------------------------------------------------
(1) Nguyễn Ðình Tư (2003), Non nước Ninh Thuận, Bến Tre: Nxb. Thanh Niên, tr. 143.
(2) Lê Quang Nghiêm (1970), Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, Sài Gòn: trung tâm Văn thư Lâm Ấn thư quán xuất bản.
(3) Cadière, L. (1905), "Monuments et souvenirs chams du Quảng Trị et du Thừa Thiên", B.E.F.E.O, Tome V, N01 - 2: 185 - 195, dẫn theo Trần Ðình Hằng, Tiếp xúc văn hóa Việt - Champa ở miền Trung: nhìn từ làng xã vùng Huế, www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB4/hang.pdf, tr.2 - 3.
(4) Victor Turner (2006), "Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu", Hoàng Cầm [dịch], Ðức Hạnh [hiệu đính], trong Những vấn đề nhân học tôn giáo, Ðà Nẵng: Nxb Ðà Nẵng, tr.242.