Công nghiệp văn hóa đang ngày càng khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới, đồng thời góp phần gia tăng sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia. Với nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển, song để những giá trị ấy thực sự trở thành sản phẩm, thương hiệu có sức cạnh tranh, cần một hệ sinh thái đồng bộ từ sáng tạo, sản xuất, bảo hộ tài sản trí tuệ đến vốn, hạ tầng và thị trường. Trong đó, việc hoàn thiện chính sách và hành lang pháp lý được kỳ vọng sẽ tạo “đường băng thể chế”, mở không gian để công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ và bền vững. Nhân dịp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến về Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, phóng viên Báo Nhân Dân, đã có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chung quanh vấn đề này.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng đây là một vấn đề rất đáng chú ý, bởi công nghiệp văn hóa có một đặc điểm khác với nhiều ngành kinh tế thông thường: sản phẩm được bán ra thị trường không chỉ mang theo giá trị kinh tế mà còn mang theo hình ảnh, câu chuyện, lối sống, hệ giá trị và bản sắc của một quốc gia.
Một bộ phim được hàng triệu người xem, một bài hát được cả thế giới nghe, một trò chơi điện tử, một thương hiệu thời trang, một sản phẩm thiết kế hay một điểm đến du lịch văn hóa hấp dẫn đều có thể khiến công chúng quốc tế hiểu hơn, yêu mến hơn một đất nước. Khi đó, doanh thu chỉ là một phần của giá trị. Phần rất quan trọng còn lại chính là khả năng tạo thiện cảm, gây ảnh hưởng, hình thành sức hấp dẫn và nâng cao vị thế quốc gia.
Vì thế, các quốc gia hiện nay không chỉ cạnh tranh để bán được nhiều sản phẩm văn hóa hơn mà còn cạnh tranh để kể câu chuyện của mình hấp dẫn hơn, đưa biểu tượng văn hóa của mình đi xa hơn và chiếm lĩnh sự chú ý của công chúng toàn cầu. Trong môi trường số, cuộc cạnh tranh này càng quyết liệt bởi một sản phẩm văn hóa có thể vượt qua biên giới gần như tức thời thông qua các nền tảng số.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, khi một quốc gia có được những thương hiệu văn hóa mạnh, những bộ phim, âm nhạc, trò chơi, thời trang, ẩm thực hay sản phẩm sáng tạo có sức lan tỏa toàn cầu, quốc gia đó không chỉ có thêm thị trường và doanh thu mà còn gia tăng sức mạnh mềm, khả năng định vị hình ảnh và tiếng nói của mình trong đời sống quốc tế. Vì vậy, công nghiệp văn hóa ngày càng trở thành một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Một quốc gia có được những thương hiệu văn hóa mạnh, những bộ phim, âm nhạc, trò chơi, thời trang, ẩm thực hay sản phẩm sáng tạo có sức lan tỏa toàn cầu, quốc gia đó không chỉ có thêm thị trường và doanh thu mà còn gia tăng sức mạnh mềm, khả năng định vị hình ảnh và tiếng nói của mình trong đời sống quốc tế.
Đối với Việt Nam, chúng ta có một nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú: lịch sử lâu đời, hệ thống di sản đa dạng, văn hóa của 54 dân tộc, ẩm thực, thủ công truyền thống, nghệ thuật, cảnh quan, cùng một thế hệ trẻ năng động và có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ. Nhưng có tài nguyên chưa có nghĩa là đã có sức mạnh. Điều quyết định là chúng ta có đủ năng lực sáng tạo, sản xuất, bảo hộ, thương mại hóa và đưa những giá trị ấy ra thị trường trong nước và quốc tế hay không.
Tôi rất chú ý đến một yêu cầu mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026: “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Theo tôi, câu nói này cho thấy rất rõ sự chuyển đổi về tư duy: văn hóa không chỉ là những giá trị chúng ta trân trọng, bảo tồn và tự hào, mà phải được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, thành sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của đất nước.
Điều quan trọng nhất là chúng ta không nên hiểu công nghiệp văn hóa chỉ như một ngành kiếm tiền từ văn hóa. Nếu chỉ chạy theo doanh thu mà làm nhạt bản sắc, hạ thấp chất lượng thẩm mỹ hoặc sao chép mô hình từ bên ngoài thì chúng ta có thể có sản phẩm nhưng chưa chắc có sức mạnh mềm. Sức mạnh mềm chỉ thực sự hình thành khi sản phẩm văn hóa vừa hấp dẫn thị trường, vừa mang được tinh thần, câu chuyện và những giá trị riêng có của Việt Nam.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, nếu đã xác định công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế quan trọng, có khả năng trở thành động lực tăng trưởng mới, thì chính sách dành cho lĩnh vực này cũng phải được thiết kế tương xứng. Không thể kỳ vọng một ngành dựa chủ yếu vào sáng tạo, tài sản trí tuệ và tài năng phát triển mạnh nếu chúng ta vẫn áp dụng hoàn toàn những công cụ quản lý và cơ chế hỗ trợ như đối với các hoạt động văn hóa truyền thống.
Trước hết là chính sách về đất đai và hạ tầng. Công nghiệp văn hóa cần không gian để hình thành hệ sinh thái. Những đô thị có tiềm năng nên dành quỹ đất và có cơ chế phù hợp cho các trung tâm công nghiệp văn hóa, khu sáng tạo, trường quay, nhà hát, trung tâm biểu diễn, thiết kế, sản xuất nội dung số, trung tâm đổi mới sáng tạo và các không gian văn hóa đa chức năng. Đây không đơn thuần là câu chuyện xây thêm công trình văn hóa, mà là tạo ra hạ tầng để các nhà sáng tạo, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà đầu tư và công nghệ gặp nhau, cùng hình thành chuỗi giá trị.
Thứ hai là tài chính, thuế và tín dụng. Đặc trưng của công nghiệp văn hóa là rủi ro cao nhưng nếu thành công có thể tạo giá trị rất lớn. Nhiều tài sản quan trọng lại là tài sản vô hình, như bản quyền, thương hiệu, kịch bản, thiết kế, dữ liệu hay quyền khai thác. Vì thế cần nghiên cứu cơ chế tín dụng phù hợp hơn đối với doanh nghiệp sáng tạo; ưu đãi thuế có mục tiêu đối với hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất, phát triển thị trường và xuất khẩu sản phẩm văn hóa; đồng thời có các quỹ, cơ chế đầu tư mồi hoặc chia sẻ rủi ro cho những dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.
Thứ ba là chính sách đối với nhân lực và nhân tài. Tôi luôn cho rằng công nghiệp văn hóa trước hết là công nghiệp của tài năng. Máy móc, trường quay hay nền tảng số đều quan trọng, nhưng yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là ý tưởng, trí tưởng tượng, năng lực kể chuyện và khả năng biến sáng tạo thành sản phẩm. Vì vậy, chúng ta cần cơ chế thật sự thông thoáng trong phát hiện, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và thu hút nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất, chuyên gia công nghệ, chuyên gia marketing, chuyên gia bản quyền và quản trị công nghiệp văn hóa.
Thứ tư là tài sản trí tuệ. Đây phải được xem là một trong những khâu đột phá. Khi người sáng tạo không được bảo vệ, khi việc vi phạm bản quyền còn dễ dàng, khi tài sản trí tuệ chưa được định giá và giao dịch thuận lợi, thì rất khó hình thành một thị trường sáng tạo chuyên nghiệp. Chúng ta cần hoàn thiện cơ chế xác lập, định giá, bảo hộ, chuyển giao và khai thác tài sản trí tuệ; đồng thời tăng hiệu quả thực thi pháp luật về bản quyền trên cả môi trường vật lý và môi trường số.
Thứ năm là thị trường. Nhà nước không thể làm thay thị trường nhưng Nhà nước có thể tạo thị trường. Chúng ta cần chính sách xúc tiến thương mại và xuất khẩu sản phẩm văn hóa, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, liên hoan, thị trường nội dung quốc tế, các nền tảng phân phối toàn cầu; xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm văn hóa có tiềm năng trở thành thương hiệu quốc gia; đồng thời sử dụng hợp lý cơ chế đặt hàng, mua sắm công và hợp tác công - tư để tạo cầu ban đầu cho những sản phẩm có chất lượng.
Tôi cũng cho rằng ưu đãi đặc thù phải luôn đi cùng tiêu chí rõ ràng, minh bạch và hậu kiểm chặt chẽ. Nếu ưu đãi về đất, thuế hay tín dụng không có tiêu chí cụ thể về hàm lượng sáng tạo, tài sản trí tuệ, giá trị văn hóa và đóng góp thực tế, sẽ có nguy cơ xuất hiện những dự án thương mại hoặc bất động sản “đội lốt” văn hóa để hưởng chính sách. Vì thế, chính sách tốt phải vừa đủ mạnh để khuyến khích người làm thật, vừa đủ chặt để ngăn việc lợi dụng ưu đãi.
Nói ngắn gọn, điều chúng ta cần không chỉ là ưu đãi nhiều hơn mà là một hệ thống chính sách thông minh hơn, hiểu đúng đặc trưng của kinh tế sáng tạo và tạo điều kiện để ý tưởng có thể trở thành tài sản, tài sản trở thành sản phẩm, sản phẩm tìm được thị trường và lợi nhuận lại tiếp tục quay về nuôi dưỡng sáng tạo.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là chúng ta đang tiến tới xây dựng một hành lang pháp lý chuyên biệt cho một lĩnh vực lâu nay phát triển khá nhanh trong thực tiễn nhưng cơ chế pháp luật còn nằm phân tán ở nhiều luật khác nhau. Dự thảo 1.0 đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến rộng rãi từ ngày 5 đến 24/8/2026, gồm 9 chương, 60 điều và tập trung vào những nhóm vấn đề then chốt như hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Dự thảo 1.0 đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến rộng rãi từ ngày 5 đến 24/8/2026, gồm 9 chương, 60 điều và tập trung vào những nhóm vấn đề then chốt như hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc có thêm một đạo luật, mà ở sự thay đổi cách nhìn về công nghiệp văn hóa. Dự thảo tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống hoạt động kinh tế dựa trên tài nguyên văn hóa, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội. Đây là cách tiếp cận phù hợp hơn với bản chất của công nghiệp văn hóa hiện đại.
Tôi đặc biệt đánh giá cao tư duy chuyển từ quản lý từng hoạt động đơn lẻ sang kiến tạo cả hệ sinh thái. Một sản phẩm công nghiệp văn hóa muốn thành công phải đi qua một chuỗi tương đối dài: từ ý tưởng, sáng tạo, sản xuất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn, phân phối, truyền thông, thương mại hóa, xuất khẩu rồi tiếp tục tái đầu tư. Chỉ một mắt xích bị nghẽn cũng có thể khiến cả chuỗi không vận hành. Vì vậy, một đạo luật có giá trị phải tạo được sự liên thông giữa các mắt xích này.
Một sản phẩm công nghiệp văn hóa muốn thành công phải đi qua một chuỗi tương đối dài: từ ý tưởng, sáng tạo, sản xuất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn, phân phối, truyền thông, thương mại hóa, xuất khẩu rồi tiếp tục tái đầu tư. Chỉ một mắt xích bị nghẽn cũng có thể khiến cả chuỗi không vận hành.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Luật cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc chính thức xác lập vị trí của các ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế. Khi địa vị pháp lý rõ ràng hơn, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư, tổ chức sản xuất, huy động vốn và tiếp cận các cơ chế hỗ trợ. Cơ quan quản lý cũng có căn cứ rõ hơn để hoạch định chính sách, thống kê, đo lường đóng góp và xây dựng các chương trình phát triển dài hạn.
Một điểm nữa tôi cho rằng rất quan trọng là Luật phải xử lý được vấn đề tài sản trí tuệ. Giá trị lớn nhất của nhiều doanh nghiệp sáng tạo không nằm ở nhà xưởng hay máy móc mà nằm ở nội dung, bản quyền, thương hiệu, thiết kế và quyền khai thác. Nếu Luật tạo được cơ chế để những tài sản này được xác lập, định giá, chuyển giao, cấp phép và khai thác thuận lợi hơn, chúng ta sẽ từng bước hình thành một thị trường tài sản trí tuệ đúng nghĩa cho công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng “cú huých” không tự nhiên xuất hiện chỉ vì chúng ta ban hành một đạo luật. Cú huých chỉ có khi Luật giải quyết được những vấn đề mà hệ thống pháp luật hiện nay chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa phù hợp; tháo được các điểm nghẽn về đất đai, vốn, thuế, hạ tầng, nhân lực, bản quyền và thị trường; đồng thời mở ra không gian đủ linh hoạt cho những mô hình kinh doanh, công nghệ và phương thức sáng tạo mới.
Một đạo luật về công nghiệp văn hóa cũng phải giữ được sự cân bằng rất quan trọng: khuyến khích thị trường nhưng không thương mại hóa bằng mọi giá; khuyến khích sáng tạo nhưng không làm tổn hại bản sắc và giá trị văn hóa; thu hút đầu tư nhưng phải bảo đảm lợi ích quốc gia; mở cửa với thế giới nhưng đồng thời phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp và người sáng tạo Việt Nam.
Tôi kỳ vọng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ tạo ra một “đường băng thể chế” đủ rộng để những nguồn lực lâu nay còn phân tán có thể gặp nhau: tài nguyên văn hóa, tài năng sáng tạo, khoa học công nghệ, vốn đầu tư và thị trường. Khi đó, mục tiêu của chúng ta không chỉ là có thêm nhiều sản phẩm văn hóa, mà phải hình thành được những doanh nghiệp sáng tạo mạnh, những thương hiệu văn hóa có sức cạnh tranh, những tài sản trí tuệ có giá trị và những sản phẩm mà khi đi ra thế giới, người ta nhận ra đó là Việt Nam.
Và điều quan trọng nhất, giá trị kinh tế tạo ra từ công nghiệp văn hóa phải quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo, bảo tồn di sản, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc. Khi tạo được vòng tuần hoàn ấy, công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành một động lực phát triển bền vững của đất nước.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn!