Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)
Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Từ tấm ván gỗ qua hàng thế kỷ đến những bản kinh được trao truyền qua nhiều thế hệ là vật chứng ký ức về đời sống tu học, hành trì và truyền thừa. Việc sưu khảo, số hóa đang mở thêm cơ hội để giá trị di sản ấy được nhận diện, bảo tồn và lan tỏa.

Tư liệu cổ kể chuyện ba thế kỷ

Trong khuôn viên Tổ đình Thiền Tôn, những người làm công tác sưu khảo của Thư viện Huệ Quang và Trung tâm Liễu Quán cẩn trọng xử lý từng tấm ván, từng trang tư liệu cổ. Mỗi nét khắc trên những phiến gỗ đã sẫm màu thời gian dường như mở ra một lát cắt của lịch sử. Tổ đình Thiền Tôn do Thiền sư Thiệt Diệu - Liễu Quán (1667-1742) khai sơn, một trong những chốn Tổ quan trọng của dòng thiền Liễu Quán ở Thuận Hóa. Hơn ba thế kỷ qua, ngoài gìn giữ một không gian tu hành, nơi đây còn lưu giữ dấu tích truyền thừa, giáo hóa và in ấn kinh sách.

Trong đợt sưu khảo và số hóa, giá trị ấy hiện rõ đặc biệt qua bộ mộc bản “Thiền môn nhật tụng”, được khắc năm 1814 dưới thời Gia Long, do Thiền sư Đạo Tâm Trung Hậu, trụ trì đời thứ sáu của Thiền Tôn, tổ chức thực hiện. Sau 212 năm, hiện còn 68 ván với 122 mặt khắc. Những tấm ván từng được đưa về cơ sở Hồng Đức của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế trưng bày, nay được thỉnh hồi về Thiền Tôn để thống nhất hệ thống mộc bản, phục vụ số hóa, in bản giấy và tiếp tục lưu giữ tại Tổ đình.

“Thiền môn nhật tụng” là tập hợp kinh, chú, kệ, nghi thức tụng niệm, thời khóa sáng-chiều, nghi lễ an cư, các bài tán thán, sám hối, cúng đàn… Qua đó có thể hình dung khá rõ công sức người xưa đã tạo nên một bộ kinh sách phục vụ đời sống tu học, hành trì của tăng ni trong chốn thiền môn xưa. Bộ kinh sách vừa cho biết người xưa đọc gì, tụng gì, vừa hình dung một ngày tu học, một mùa an cư và một nghi lễ Phật giáo được tổ chức như thế nào.

Đáng chú ý, khoảng một phần ba trong 122 mặt khắc đã mòn ván, mất nét chữ, khuyết trang, có tấm chỉ đọc được một phần nội dung. Nhưng với các nhà nghiên cứu, những dấu vết ấy đã phản ánh sự xuống cấp của bộ cổ vật. Mỗi vết mòn, chỗ sứt, lớp ván được bổ sung hay những bản khắc cũ vẫn được giữ lại đều là chứng cứ về lịch sử tồn tại của văn bản.

Qua khảo cứu, có thể nhận diện hai lớp khá rõ: Lớp ván nguyên bản khắc năm 1814 với chữ đã mòn theo thời gian và lớp ván bổ sung về sau, chữ còn sắc nét hơn. Đặc biệt, hiện tượng “trùng ván” - ván mới được bổ sung nhưng ván cũ bị hư hỏng vẫn được giữ lại - tạo nên những lớp ký ức vật chất quý giá. Từ đó, có thể lần theo hành trình một văn bản được khắc, in, sử dụng, sửa chữa rồi truyền lại qua nhiều thế hệ.

Theo Hòa thượng Thích Thanh Đàm, Trú trì Tổ đình Thiền Tôn, mộc bản không chỉ ghi kinh mà còn ghi cả lịch sử hành trì và truyền thừa của dòng thiền do Tổ sư Liễu Quán khai sáng. Vì vậy, một tấm ván cũ vượt ra ngoài phạm vi của một pháp bảo trong nhà chùa, trở thành nguồn tư liệu cho nghiên cứu văn bản học, lịch sử in ấn và lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Di sản được lưu giữ và trao quyền

Tại Thiền Tôn, ngoài lưu giữ câu chuyện của Phật giáo, còn một lớp ký ức văn chương của Huế. Đại thi hào Nguyễn Du từng đến Thiền Tôn và để lại bài thơ “Vọng Thiên Thai tự”. Hình ảnh ngôi chùa cổ giữa núi Thiên Thai, vị sư già, mây trắng và tiếng chuông cũ trong bài thơ cho thấy Thiền Tôn đã đi vào ký ức văn học của vùng đất, trở thành một địa chỉ văn hóa trong một không gian tôn giáo.

Cũng tại đây, những cuộc gặp giữa người giữ di sản và người nghiên cứu trẻ đang tạo nên một vòng nối mới. Đoàn tăng ni nghiên cứu sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đến tìm hiểu quy trình khảo cứu, số hóa, bảo tồn tư liệu và trực tiếp trải nghiệm in kinh từ mộc bản.

Theo Thượng tọa Thích Minh Đức, Trưởng khoa Hán Nôm học của Học viện, việc đưa tăng ni sinh ra khỏi giảng đường để tiếp xúc với mộc bản, kinh sách cổ có ý nghĩa đặc biệt. Bởi Hán Nôm không chỉ là môn học về ngôn ngữ và văn bản; trong những tấm ván, trang kinh, câu kệ, hay văn bia còn có lịch sử của chính các dòng truyền thừa mà người học hôm nay đang kế tiếp.

Khi tận tay xem một bản in từ mộc bản, người trẻ có thể hình dung rõ hơn con đường tri thức Phật giáo đã đi qua để đến với hiện tại. Một tăng ni sinh sau khi trực tiếp xem bản kinh cổ và thao tác in từ mộc bản chia sẻ cảm giác như đang “chạm vào một phần lịch sử”.

Từ bộ mộc bản ở Thiền Tôn có thể nhìn rộng hơn câu chuyện bảo tồn Hán Nôm của Huế. Trong nhiều năm, các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã nỗ lực sưu tầm, số hóa nguồn tư liệu Hán Nôm đang phân tán tại các làng xã, dòng họ, tư gia và cơ sở tôn giáo. Gần 500.000 tư liệu đã được sưu tầm, phân loại và số hóa, nhưng để biến nguồn tư liệu ấy thành tri thức phục vụ xã hội vẫn cần một quá trình lâu dài.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu mộc bản là “ký ức vật chất” của văn bản, thì số hóa chính là cách tạo thêm một cơ hội để ký ức ấy bước vào tương lai. Nhưng một tấm ván được chụp thành hình ảnh mới chỉ là bước đầu. Để trở thành nguồn tài liệu có giá trị, tư liệu cần được biên mục, xác định nguồn gốc, niên đại, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải, nghiên cứu và xây dựng cơ sở dữ liệu để có thể khai thác lâu dài. Đây cũng là định hướng trong Kế hoạch sưu tầm, số hóa, bảo quản, phục hồi và phát huy giá trị tư liệu Hán Nôm của thành phố Huế giai đoạn 2026-2030.

Với di sản Hán Nôm Phật giáo Huế, Thượng tọa Thích Không Nhiên, Phó Viện trưởng, Phó Giám đốc điều hành Trung tâm Lưu trữ và Nghiên cứu (Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế) cho rằng, tư liệu Hán Nôm được số hóa là nguồn tư liệu quý giúp hậu thế hiểu thêm về lịch sử, văn hóa Phật giáo. Trung tâm cũng định hướng tiếp tục số hóa các ấn phẩm Liễu Quán, mộc bản, điển tịch cổ, bi ký, chuông, tượng, pháp khí và tư liệu Hán Nôm Phật giáo bằng công nghệ hiện đại. Một mặt, phải bảo vệ nguyên trạng những tư liệu gốc như mộc bản “Thiền môn nhật tụng” tại Thiền Tôn. Mặt khác, cần tạo ra các bản sao số có chất lượng, xây dựng dữ liệu khoa học và từng bước mở rộng khả năng tiếp cận của giới nghiên cứu, sinh viên, tăng ni và công chúng.

Có thể bạn quan tâm