Từ giá trị di sản đến bài toán thị trường
Với khoảng 1.350 làng có nghề, trong đó 337 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận tính đến tháng 3/2026, Hà Nội có nguồn lực đáng kể để phát triển thủ công mỹ nghệ, công nghiệp văn hóa và du lịch. Tuy nhiên, giá trị của nghề truyền thống không tự động chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh nếu sản phẩm thiếu đổi mới, hoạt động sản xuất thiếu liên kết và thị trường tiêu thụ chưa ổn định.
Thực tế đặt ra yêu cầu không chỉ bảo tồn kỹ thuật, bí quyết nghề và bản sắc văn hóa, mà còn phải tìm cách đưa những giá trị đó vào đời sống kinh tế đương đại. Sản phẩm cần đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, có thiết kế phù hợp, nguồn gốc rõ ràng và kênh phân phối hiệu quả. Với những làng nghề có tiềm năng du lịch, việc kết hợp sản xuất thủ công với trải nghiệm văn hóa cũng có thể mở thêm hướng tạo thu nhập cho người dân.
Thực hiện Chương trình số 02/CTr-UBND ngày 9/1/2026 của UBND thành phố Hà Nội về Xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch thành phố Hà Nội năm 2026, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (Sở Tài chính) ngày 12/10 đã phối hợp tổ chức Hội nghị đối thoại “Kết nối di sản - kiến tạo giá trị tinh hoa Làng nghề Hà Nội” nhằm tạo một diễn đàn kết nối thành công giữa các cấp chính quyền với các chuyên gia, các nghệ nhân, các doanh nghiệp; thẳng thắn trao đổi những khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất tham mưu với chính quyền Hà Nội xây dựng chính sách tốt hơn trong tương lai, từng bước hình thành hệ sinh thái làng nghề phát triển.
Tại hội nghị nêu trên, bà Nghiêm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội thuộc Sở Tài chính Hà Nội cho rằng, điều quan trọng là mỗi làng nghề phải xác định được giá trị cốt lõi, xây dựng câu chuyện văn hóa, lịch sử có sức hấp dẫn để tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế.
Tại hội nghị đối thoại này, các chuyên gia, nghệ nhân cũng nêu ra nhiều điểm nghẽn trong sản xuất, phát triển thị trường, bảo vệ môi trường và khai thác du lịch làng nghề Hà Nội. Một trong những điểm nghẽn được đề cập là quy mô sản xuất tại nhiều cơ sở còn nhỏ lẻ, trong khi sự liên kết giữa nghệ nhân, doanh nghiệp, nhà thiết kế và đơn vị phân phối chưa chặt chẽ. Điều này khiến sản phẩm của các làng nghề khó chuẩn hóa chất lượng, phát triển theo nhu cầu thị trường và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Năng lực nghiên cứu thị trường, ứng dụng thiết kế hiện đại và xây dựng thương hiệu tại các làng nghề cũng còn hạn chế. Trong khi đó, thời gian học nghề kéo dài nhưng thu nhập thiếu ổn định khiến việc thu hút người trẻ tiếp nối nghề truyền thống gặp khó khăn. Các vấn đề về ô nhiễm môi trường, hạ tầng du lịch, ứng dụng thương mại điện tử và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng cần được giải quyết đồng bộ.
Ở cấp độ cơ sở, nhu cầu ứng dụng nền tảng số để quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm cũng cần được quan tâm. Với nhiều nghệ nhân và hộ sản xuất, việc đưa sản phẩm lên môi trường trực tuyến không đơn thuần là mở thêm một kênh bán hàng, mà còn đòi hỏi kỹ năng giới thiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh, quản lý đơn hàng và bảo đảm thông tin về nguồn gốc xuất xứ.
Những hạn chế này cho thấy bảo tồn và phát triển làng nghề tại Hà Nội không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng hộ sản xuất. Cần có sự tham gia của doanh nghiệp trong thiết kế, tổ chức sản xuất và phân phối; sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý về cơ chế, chính sách; cùng khả năng thích ứng của chính các chủ thể làng nghề.
Mở rộng không gian kinh tế từ du lịch làng nghề
Bên cạnh thị trường hàng thủ công mỹ nghệ, du lịch là một hướng có thể tạo thêm giá trị cho các làng nghề thông qua việc khai thác câu chuyện văn hóa, kỹ thuật chế tác và trải nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, để trở thành sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh, mỗi làng nghề cần xác định rõ nhóm khách hàng, xây dựng chương trình phù hợp và bảo đảm chất lượng dịch vụ.
Ông Lê Hồng Thái - Trưởng phòng Đầu tư và Phát triển của Tổng công ty Du lịch Hà Nội (Hanoitourist) đề xuất nghiên cứu thí điểm bốn tuyến du lịch đêm kết nối khu phố cổ Hà Nội với các làng nghề Bát Tràng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ và Sơn Đồng. Thay vì chỉ tham quan và mua sắm, du khách có thể tìm hiểu quy trình chế tác, trực tiếp thực hành dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân và tiếp cận những câu chuyện gắn với lịch sử, văn hóa của từng nghề.
Theo định hướng này, Bát Tràng có thể phát triển các hoạt động trải nghiệm làm gốm; Vạn Phúc khai thác nghề dệt lụa gắn với trình diễn thời trang; Chuyên Mỹ giới thiệu kỹ thuật khảm trai; còn Sơn Đồng tập trung vào nghệ thuật điêu khắc gỗ, tạc tượng và sơn son thếp vàng. Nội dung cụ thể cần được xây dựng trên cơ sở điều kiện thực tế, khả năng tổ chức đón khách và nhu cầu của thị trường.
Dù vậy, du lịch đêm tại các làng nghề không thể chỉ dựa vào việc kéo dài thời gian mở cửa. Hạ tầng giao thông, chiếu sáng, an ninh, vệ sinh môi trường, bãi đỗ xe và phương án vận chuyển đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận hành tour. Các cơ sở sản xuất cũng cần cân đối hoạt động đón khách với yêu cầu duy trì sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng.
Đại diện Hanoitourist đề xuất nghiên cứu tuyến xe buýt du lịch đêm kết nối khu vực trung tâm với các làng nghề, đồng thời cải thiện những tiện ích phục vụ mua sắm như thanh toán thẻ quốc tế, mã QR cung cấp thông tin về sản phẩm và nghệ nhân, dịch vụ đóng gói hàng thủ công phù hợp với vận chuyển đường dài. Việc bố trí điểm hỗ trợ hoàn thuế giá trị gia tăng tại các khu vực trải nghiệm tập trung cũng được đề xuất nghiên cứu theo quy định hiện hành.
Đây là những giải pháp cần được đánh giá về nhu cầu thị trường, chi phí vận hành và hiệu quả kinh tế trước khi triển khai. Nếu thiếu sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, chủ thể làng nghề, doanh nghiệp lữ hành và đơn vị vận chuyển, sản phẩm du lịch khó duy trì thường xuyên, ngay cả khi có ý tưởng trải nghiệm hấp dẫn. Quan trọng hơn, lợi ích từ du lịch cần được phân bổ hợp lý để nghệ nhân và cộng đồng trực tiếp gìn giữ nghề có động lực tham gia. Khi người dân được hưởng lợi từ hoạt động dịch vụ, việc bảo tồn nghề truyền thống mới có thêm cơ sở kinh tế để duy trì lâu dài.
Phát triển làng nghề Hà Nội đòi hỏi cách tiếp cận vượt ra ngoài mục tiêu bảo tồn đơn thuần. Giá trị di sản cần được chuyển hóa thành sản phẩm có sức cạnh tranh, hoạt động sản xuất có khả năng duy trì sinh kế và các dịch vụ tạo thêm nguồn thu cho cộng đồng.
Muốn vậy, cần đồng thời giải quyết ba vấn đề: Nâng cao năng lực sản xuất và sáng tạo của các chủ thể làng nghề; tăng cường kết nối giữa nghệ nhân, doanh nghiệp và thị trường; nâng cao hiệu quả điều phối, hỗ trợ của cơ quan quản lý.
Vai trò của chính quyền không thay thế trách nhiệm đổi mới của doanh nghiệp và người làm nghề, mà là tạo điều kiện để các nguồn lực gặp nhau, những vướng mắc được xử lý và chính sách đi vào thực tế. Khi cơ chế hỗ trợ gắn với nhu cầu thị trường, hoạt động đầu tư đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, làng nghề mới có cơ hội phát triển bền vững trên cơ sở những giá trị truyền thống vốn có.