Kiến tạo hành lang pháp lý, khơi dòng chảy giá trị văn hóa

Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền bắc.
Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền bắc.

Theo đó, dự thảo đã nhận được sự quan tâm của giới chuyên môn, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà quản lý; nhiều hội thảo, tọa đàm góp ý được tổ chức tại các địa phương với những trao đổi sôi nổi, thiết thực.

Biến tiềm năng thành giá trị

Du lịch, giai đoạn 2018-2025, công nghiệp văn hóa mới đóng góp khoảng 4-5% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2030 tối thiểu là 7%. Đó là khoảng cách khó lấp đầy chỉ bằng đà tăng trưởng tự nhiên của thị trường.

Báo cáo “Ngành game Việt Nam-Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm khơi thông tiềm năng phát triển” của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN, chỉ ra một bất cập: hiện có khoảng 80% vốn đầu tư vào startup Việt Nam đã “chảy” về túi của các pháp nhân đặt tại Singapore.

Còn theo Hiệp hội Kỹ xảo điện ảnh và Hoạt hình Việt Nam (VAVA), hơn 60% số studio hoạt hình, kỹ xảo trong nước đang tham gia khá sâu vào các dự án quốc tế, chủ yếu ở vai trò gia công, hậu kỳ.

Những con số này dù không đại diện cho toàn bộ bức tranh công nghiệp văn hóa, song cũng cho thấy một thực tế cần quan tâm: Việt Nam có nguồn lực sáng tạo dồi dào, thị trường giàu tiềm năng, nhưng phần giá trị gia tăng và quyền tài sản, được xem như phần cốt lõi của bất kỳ ngành công nghiệp nào, lại đang bị phân tán.

Trong hệ thống pháp luật hiện hành, các lĩnh vực như điện ảnh, xuất bản, quảng cáo, du lịch, di sản văn hóa, quyền tác giả đều đã có luật riêng điều chỉnh, tuy nhiên mỗi luật chỉ bao quát một lĩnh vực chuyên biệt, trong khi công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi giá trị liên ngành.

Thí dụ một tác phẩm điện ảnh, không chỉ là câu chuyện của giới làm phim mà còn liên quan quyền tác giả, vốn đầu tư, công nghệ, dữ liệu người dùng, thương mại các sản phẩm phái sinh và khả năng xuất khẩu.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc xây dựng dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa với mục đích thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và thống nhất các chủ trương lớn của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030.

Thông qua việc ban hành Luật Công nghiệp văn hóa sẽ xác định địa vị pháp lý chính thức cho các ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam.

Dự án Luật hướng tới ba mục tiêu lớn: Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế; kết nối chuỗi giá trị nhằm gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư; đồng thời lan tỏa bản sắc, thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam ra quốc tế.

Ông Phạm Cao Thái, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đánh giá, đây là dự án luật khó và mang tính đặc thù cao: Phạm vi điều chỉnh trải rộng qua nhiều ngành, nhiều chủ thể, trong khi khái niệm “phát triển công nghiệp văn hóa” tuy đã xuất hiện trong nghị quyết của Đảng nhưng khi đưa vào luật vẫn còn rất mới.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Quốc tế QP Việt Nam, nhìn nhận công nghiệp văn hóa là lĩnh vực giao thoa giữa nhiều chuyên ngành đã có luật quản lý riêng, nhưng vẫn thiếu một hành lang pháp lý thuận tiện và một cơ chế bảo hộ tốt cho tài nguyên sở hữu trí tuệ, tài nguyên cốt lõi nhất của văn hóa. Do đó, sự ra đời của luật vào thời điểm này là cần thiết.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, bày tỏ đồng thuận cao với chủ trương xây dựng luật, đồng thời đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh ngay tại Điều 1: Bổ sung nội dung tổ chức, thực hiện phát triển công nghiệp văn hóa cả trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài, để phù hợp hơn với xu hướng hội nhập và khả năng đưa sản phẩm, dịch vụ sáng tạo của Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Mở "đường băng" để sáng tạo cất cánh

Dự thảo Luật tập trung vào sáu nhóm chính sách lớn: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và ưu đãi đầu tư.

Trong đó, cơ chế khai thác tài sản trí tuệ là một nội dung đáng chú ý. Dự thảo đặt vấn đề số hóa vòng đời tài sản, áp dụng mã định danh tương thích quốc tế, chuẩn hóa hồ sơ dưới dạng số phục vụ nhận diện, truy xuất, định giá và giao dịch. Các cơ chế sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm, tiếp cận tín dụng cũng được đề cập cụ thể hơn.

Đây là vấn đề nhiều doanh nghiệp sáng tạo quan tâm bởi tài sản lớn nhất của họ có khi không phải nhà xưởng hay máy móc, mà là kịch bản, nhân vật, thương hiệu, bản quyền, thiết kế hoặc những sản phẩm trí tuệ có khả năng tạo doanh thu trong tương lai.

Chuyên gia Huỳnh Phan Phương Hoàng, Phó Tổng Giám đốc Vietravel, nhìn nhận công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải có thị trường, vốn, nhân lực, dữ liệu và cơ chế thử nghiệm.

Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang kiến tạo thị trường, xây dựng cơ chế sandbox (ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát) với những mô hình mới, chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp..

Trên thế giới, nhiều quốc gia chú trọng ban hành những chính sách, quy định pháp luật để tạo đà phát triển công nghiệp văn hóa.

Tiêu biểu như Hàn Quốc, từ năm 1999 đã ban hành luật khung thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Trung Quốc, dù đã có nhiều văn bản dưới luật cho từng lĩnh vực, hiện cũng đang xây dựng một đạo luật tổng thể tương tự.

Còn Nhật Bản lại gắn công nghiệp nội dung với chiến lược “sức mạnh mềm” quốc gia, phối hợp xuyên suốt nhiều bộ, ngành để hỗ trợ xuất khẩu văn hóa. Điểm chung của những mô hình này là luật mở “đường băng” để sáng tạo cất cánh; chính sách tiếp tục được đo đếm, điều chỉnh theo sự vận động của thị trường.

Ban soạn thảo cho biết thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao để các quy định trong luật vừa giao thoa, gắn kết, vừa không chồng chéo với hệ thống luật chuyên ngành đã có.

Thách thức ấy càng cấp bách hơn khi thị trường văn hóa dịch chuyển nhanh sang môi trường số, nơi một sản phẩm sáng tạo ở nước này có thể phân phối qua nền tảng đặt máy chủ ở nước khác và tiếp cận hàng triệu người dùng Việt Nam gần như tức thời.

Cạnh tranh diễn ra giữa các sản phẩm với nhau, và giữa những hệ sinh thái sở hữu công nghệ, dữ liệu, kênh phân phối.

Các chuyên gia phân tích, bảo vệ công nghiệp văn hóa trong nước không phải là dựng hàng rào trước sản phẩm nước ngoài, mà là bảo đảm quyền làm chủ tài sản trí tuệ, quyền lợi người sáng tạo và cơ hội để sản phẩm Việt Nam đến được với công chúng bằng những kênh phân phối hiệu quả, trước khi tự tin bước ra thị trường quốc tế.

Giá trị lớn nhất của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, nếu được ban hành đúng tinh thần kiến tạo, sẽ nằm ở khả năng tạo sự liên thông đồng bộ từ nguồn lực văn hóa đến sức sáng tạo, từ sáng tạo đến tài sản, từ tài sản đến thị trường, và từ thị trường quay trở lại nuôi dưỡng nền văn hóa đã sản sinh ra những giá trị ấy.

Có thể bạn quan tâm