Khoảng trống cần vượt qua

Bác sĩ thực hiện ca ghép tạng. (Ảnh minh họa: BVCC)
Bác sĩ thực hiện ca ghép tạng. (Ảnh minh họa: BVCC)

Ghép mô, tạng là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của y học trong thế kỷ 20, giúp một trái tim có thể tiếp tục đập trong một lồng ngực khác; một lá gan, một quả thận có thể đem lại thêm những năm tháng sống khỏe mạnh; một giác mạc có thể trả lại ánh sáng cho một cuộc đời… Đó là một trong những điều kỳ diệu nhất mà y học hiện đại có thể thực hiện. Nhưng sự kỳ diệu đó sẽ không thể xảy ra nếu thiếu đi nguồn nguyên liệu quý giá nhất, đó chính là sự sẻ chia.

Phía sau mỗi ca ghép thành công không chỉ là trình độ phẫu thuật, sự phát triển của các chuyên ngành: hồi sức, miễn dịch, xét nghiệm hay công tác điều phối, mà trước những thành tựu chuyên môn ấy có một điều mà khoa học không thể tạo ra, đó là quyết định hiến tặng của một con người và sự đồng thuận đầy nhân văn của một gia đình trong thời khắc khó khăn nhất. Vì thế, ghép tạng trước hết là thành tựu của y học, nhưng sâu xa hơn, đó là nơi khoa học gặp lòng nhân ái để tạo nên sự sống.

Ngành y tế Việt Nam tuy đi sau nhưng đã theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực khi đã làm chủ được những kỹ thuật ghép tạng khó nhất, phức tạp nhất như: ghép đa tạng, ghép tim-gan đồng thời... Sau hơn 30 năm, kể từ ca ghép thận đầu tiên, đến nay các thầy thuốc Việt Nam đã thực hiện hơn 11.000 ca ghép tạng. Nhưng chính khi năng lực chuyên môn đã tiến xa hơn, thì một khoảng trống cần vượt qua, đó là khả năng ghép đang phát triển nhanh hơn nguồn tạng hiến từ người chết não. Hiện rất nhiều người bệnh không may bị suy tạng, trong khi các yếu tố về nhân lực, kỹ thuật, cơ sở vật chất đều có đủ để cứu sống họ, nhưng lại chưa có nguồn tạng phù hợp để ghép.

Bởi vậy, giai đoạn tới không chỉ đặt mục tiêu thực hiện thêm bao nhiêu ca ghép, mà cần phải được đánh giá bằng khả năng phát hiện nguồn hiến, tư vấn đúng lúc, điều phối kịp thời, phân bổ công bằng và sử dụng tốt nhất từng mô, tạng được trao tặng. Qua đó, từng bước hình thành trong xã hội một nhận thức đúng, một niềm tin vững chắc và một văn hóa hiến tặng, để việc trao đi một phần cơ thể sau khi sự sống khép lại được nhìn nhận như một lựa chọn tự nguyện, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng.

Theo đó, cần hoàn thiện thể chế, chính sách, quan tâm đầy đủ hơn đến quyền lợi chính đáng của người hiến và gia đình người hiến tặng, cơ chế tài chính, điều phối và phân bổ tạng dựa trên những nguyên tắc cốt lõi: tự nguyện, nhân đạo, công bằng, minh bạch và tuyệt đối không thương mại hóa mô, tạng.

Sau hơn 30 năm, kể từ ca ghép thận đầu tiên, đến nay các thầy thuốc Việt Nam đã thực hiện hơn 11.000 ca ghép tạng.

Được biết, Bộ Y tế đã hoàn thiện dự thảo hồ sơ Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) để xin ý kiến các bộ, ngành, đơn vị liên quan và dự kiến trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI tới đây. Hy vọng sau khi được ban hành, Luật sẽ giải quyết được các hạn chế, tồn tại, thúc đẩy hoạt động hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.

Khi khả năng ghép phát triển nhanh thì bài toán phát triển nguồn hiến phải trở thành trách nhiệm của cả hệ thống y tế, chứ không chỉ của các bệnh viện thực hiện ghép. Những cơ sở có chuyên ngành hồi sức cấp cứu cần từng bước có đủ năng lực phát hiện người hiến tiềm năng, chẩn đoán chết não, tư vấn gia đình… Đồng thời tiếp tục nâng cao năng lực điều phối quốc gia, phát triển hệ thống dữ liệu và ứng dụng công nghệ, để mỗi nguồn tạng được phân bổ trên cơ sở khoa học, công khai, minh bạch, đúng người và đúng thời điểm.

Xây dựng văn hóa hiến tặng trong cộng đồng cũng là một hướng cần triển khai. Bởi nguồn hiến phải được nuôi dưỡng từ nhận thức của người dân và niềm tin của xã hội vào một hệ thống y tế nhân văn, minh bạch và công bằng, khẳng định triết lý sống cao đẹp: “Cho đi là còn mãi”.

Có thể bạn quan tâm