Ra mắt Mạng lưới Tri thức Việt-Nga tại Moskva. (Ảnh: THANH THỂ)
Ra mắt Mạng lưới Tri thức Việt-Nga tại Moskva. (Ảnh: THANH THỂ)

Kết nối nguồn lực tri thức Việt-Nga

Sau một thời gian chuẩn bị, Mạng lưới Tri thức Việt-Nga (Mạng lưới) đã ra mắt, được kỳ vọng trở thành cầu nối lâu dài giữa nguồn lực tri thức của cộng đồng người Việt Nam tại Nga với nhu cầu phát triển của đất nước.

Là sáng kiến do Quỹ Thúc đẩy phát triển hợp tác Nga-Việt “Truyền thống và Hữu nghị” sáng lập và vận hành, Mạng lưới hướng tới kết nối đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và những người Việt Nam có gắn bó với Liên bang Nga, cũng như những người Nga; qua đó đưa nguồn lực tri thức tham gia trực tiếp hơn vào các chương trình nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ.

Mạng lưới ra mắt trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, trong khuôn khổ Diễn đàn Khoa học công nghệ Việt Nam-Liên bang Nga với chủ đề “Kết nối công nghệ chiến lược” được tổ chức hôm 9/9 vừa qua.

Một nền tảng kết nối mới

Sau thành công của chương trình ra mắt, trả lời phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Nga, ông Đỗ Xuân Hoàng, Chủ tịch Quỹ “Truyền thống và hữu nghị” nhấn mạnh, quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga được xây dựng và vun đắp qua nhiều thế hệ; trong đó nguồn lực con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức từng học tập, nghiên cứu và làm việc tại Nga, là một tài sản quý báu.

Từ thực tế đó, Mạng lưới Tri thức Việt-Nga được hình thành với mong muốn tạo một không gian kết nối thường xuyên giữa các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức của hai nước; qua đó đưa tri thức đến gần hơn với nhu cầu thực tiễn.

“Chúng tôi mong muốn mạng lưới này sẽ trở thành một không gian mở, hỗ trợ chuyển giao và phát triển công nghệ, kết nối trí tuệ, nguồn vốn với ý tưởng, chuyên gia với nhu cầu thực tiễn, góp phần hình thành một thế hệ hợp tác mới dựa trên tri thức, sáng tạo và những dự án cụ thể”, ông Đỗ Xuân Hoàng nói.

ndo_br_dsc09532.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu ý kiến tại diễn đàn. (Ảnh: THANH THỂ)

Mạng lưới tập trung vào các lĩnh vực như khoa học vật liệu và công nghệ cao; trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số; năng lượng và công nghệ môi trường; công nghệ sinh học, y tế và dược phẩm; công nghệ khai khoáng và luyện kim, cùng một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn khác.

Đáng chú ý, mạng lưới không chỉ hướng tới việc tập hợp chuyên gia, mà đặt mục tiêu kết nối nguồn lực nghiên cứu với những bài toán cụ thể của doanh nghiệp và địa phương. Theo đó, các nhóm nghiên cứu chung có thể được hình thành trên cơ sở những nhu cầu thực tế, cùng với các cơ chế hỗ trợ nguồn lực để triển khai và đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng.

Viện sĩ Alexander Nekipelov, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Giám đốc Trường Kinh tế Moskva thuộc Đại học Quốc gia Moskva đánh giá cao Mạng lưới Tri thức Việt-Nga, đồng thời bày tỏ vui mừng về “sức sống mới” trong quan hệ giữa Việt Nam và Nga.

Cũng theo Viện sĩ, quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Nga có lịch sử rất tốt đẹp. Hiện nay, quan hệ đó được phát triển không chỉ trong những ngành, lĩnh vực truyền thống, mà còn mở rộng sang công nghiệp và các lĩnh vực mới. Hai nước đang thảo luận về các dự án trong ngành công nghiệp hạt nhân và những vấn đề khác.

ndo-br-viensi-1228.jpg
Viện sĩ Alexander Nekipelov trả lời phỏng vấn. (Ảnh: THANH THỂ)

“Với tư cách là người sinh ra và sống phần lớn cuộc đời thời Liên Xô, tôi rất hài lòng với sự phát triển của mối quan hệ giữa hai nước. Là một nhà nghiên cứu, tất nhiên tôi rất mong chờ sự phát triển của mối quan hệ giữa các nhà khoa học Việt Nam và Nga trong tất cả các lĩnh vực”, Viện sĩ nói.

Từ nguồn lực trí thức đến những dự án cụ thể

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Quỹ “Truyền thống và hữu nghị”, Chủ tịch Hội đồng điều phối mạng lưới, việc thành lập mạng lưới xuất phát từ nhu cầu xây dựng một cơ chế kết nối thường xuyên, qua đó tập hợp và phát huy tốt hơn nguồn lực chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam và Nga.

Mạng lưới dự kiến triển khai theo bốn hướng chính: Duy trì cộng đồng chuyên gia và doanh nghiệp trên cơ sở portal của mạng lưới; tổ chức các hội nghị, tọa đàm khoa học; hỗ trợ hình thành các nhóm nghiên cứu chung và chuyển giao tri thức; đồng thời kết nối các đề tài nghiên cứu theo nhu cầu của cơ quan nhà nước, địa phương và doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, cách tiếp cận này nhằm đưa nguồn lực trí thức của cộng đồng người Việt Nam tại Nga tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước, phù hợp tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.

Ngay sau khi Mạng lưới ra mắt, đại diện nhiều trường đại học, cơ sở nghiên cứu ở Nga bày tỏ sự quan tâm và mong muốn kết nối.

Từ góc độ cộng đồng người Việt Nam tại Nga, các chuyên gia nhận định, thế hệ trẻ người Việt Nam đang có những lợi thế đặc biệt: được đào tạo trong môi trường khoa học của Nga, hiểu văn hóa và ngôn ngữ hai nước, đồng thời ngày càng có khả năng tiếp cận những yêu cầu mới của Việt Nam. Việc kết nối lực lượng này với các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan trong nước được kỳ vọng mở thêm những hướng đi mới cho hợp tác khoa học, công nghệ giữa hai nước.

ndo-br-dsc09423-639.jpg
Ông Đỗ Xuân Hoàng và ông Nguyễn Quốc Hùng (thứ 2, thứ 3 từ trái sang, hàng đầu). (Ảnh: THANH THỂ)

Trước đó, tại Diễn đàn Khoa học công nghệ Việt Nam-Liên bang Nga, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong giai đoạn tới cần một tư duy mới, cách làm mới và những mục tiêu cao hơn; không chỉ dừng ở trao đổi chuyên gia, đào tạo cán bộ, mà phải hướng tới cùng làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm và cùng tham gia thị trường.

Nhấn mạnh tài sản lớn nhất của quan hệ hai nước không chỉ là những công trình đã xây dựng, mà còn là con người, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên mở rộng các chương trình đào tạo về những lĩnh vực công nghệ chiến lược; tăng cường trao đổi nhà khoa học trẻ, nghiên cứu sinh, kỹ sư; tạo điều kiện để các nhóm nghiên cứu trẻ của hai nước cùng thực hiện những nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, trong bối cảnh đó, sự ra đời của Mạng lưới Tri thức Việt-Nga có thể được xem là một bước đi nhằm tạo thêm một kênh để nguồn lực trí thức hai nước được kết nối thường xuyên hơn, từ đó chuyển những mối quan hệ cá nhân, những ý tưởng nghiên cứu và tiềm năng hợp tác thành các chương trình, dự án cụ thể.

Để tri thức “không nằm trên giấy”, Mạng lưới hướng tới giải quyết bằng mô hình “Nghiên cứu theo đơn đặt hàng” đi đôi với “Bảo trợ tài chính”. Những thành viên và đối tác mạng lưới không chỉ là các chuyên gia, nhà khoa học mà còn là các doanh nghiệp công nghệ.

Mạng lưới tiếp nhận các bài toán thực tế từ doanh nghiệp, địa phương trong nước và chuyển giao trực tiếp cho các nhóm nghiên cứu chung thuộc các lĩnh vực ưu tiên. Khi có đơn đặt hàng, sản phẩm khoa học sẽ có ngay địa chỉ ứng dụng và thương mại hóa.

Sáng kiến có ý nghĩa thiết thực

Việc ra mắt Mạng lưới Tri thức Việt-Nga được Đại sứ Việt Nam tại Nga Đặng Minh Khôi đánh giá là một sáng kiến có ý nghĩa rất thiết thực, mang tầm vóc đặc biệt cả về thời điểm lẫn ý nghĩa chiến lược. Đây không chỉ là một sáng kiến đơn lẻ, mà là kết quả tất yếu của truyền thống hợp tác trí thức đã được xây dựng qua nhiều thế hệ.

Trong giai đoạn 1950-1991, Liên Xô (trước đây) đã tiếp nhận và đào tạo gần 50.000 công dân Việt Nam, trong đó khoảng 30.000 người trình độ đại học, gần 3.000 phó tiến sĩ và 200 tiến sĩ khoa học, phần lớn thuộc các ngành khoa học kỹ thuật cơ bản. Đây chính là nền tảng hình thành đội ngũ trí thức, kỹ sư đầu ngành của Việt Nam.

Cũng theo Đại sứ, quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga được vun đắp qua nhiều thế hệ, trong đó con người, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân Việt Nam từng học tập, nghiên cứu và làm việc tại Nga, là một tài sản quý báu. Mạng lưới Tri thức Việt-Nga được thiết kế để tiếp nối và nâng tầm truyền thống đó trong điều kiện mới.

Đại sứ nhấn mạnh, việc ra mắt mạng lưới đúng vào Năm khoa học và giáo dục Việt-Nga 2026 càng khẳng định đây là một bước đi chiến lược, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về đường lối đối ngoại.

Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, xác định hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ là mũi nhọn ưu tiên hàng đầu để đón đầu dòng chảy tri thức toàn cầu, và Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó mạng lưới sẽ góp phần phát huy tốt hơn nguồn lực trí thức kiều bào, đồng thời tạo thêm không gian để các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp hai nước kết nối, chia sẻ tri thức, ý tưởng và tìm kiếm các cơ hội hợp tác cụ thể.

ndo_br_dsc09711.jpg
Hơn 3.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Nga, trong đó khoảng 44% theo các ngành khoa học-công nghệ. (Ảnh: THANH THỂ)

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Nga sở hữu một lực lượng trí thức đáng kể: hơn 3.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Nga, trong đó khoảng 44% theo các ngành khoa học-công nghệ. Trong điều kiện đó, Đại sứ tin rằng thế hệ trẻ người Việt tại Nga chính là lực lượng có lợi thế đặc biệt để tham gia các nhóm nghiên cứu chung, nếu được kết nối đúng cách và thường xuyên thông qua mạng lưới.

Để một mạng lưới tri thức thật sự tạo ra kết quả, điều quan trọng nhất là phải đưa kết nối gắn với những nhu cầu và bài toán cụ thể của thực tiễn. Theo Đại sứ, mô hình “đơn đặt hàng-nhóm nghiên cứu chung-bảo trợ tài chính-thương mại hóa” của mạng lưới nhằm bảo đảm rằng kết quả nghiên cứu không dừng ở bài báo khoa học mà hướng tới sản phẩm có thể ứng dụng và tham gia thị trường. Đặc biệt, sự tham gia của doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng.

Đại sứ Đặng Minh Khôi cũng mong muốn trong những năm tới, từ mạng lưới sẽ hình thành được một cơ chế kết nối tri thức Việt-Nga thực chất, bền vững và có khả năng tạo ra những kết quả cụ thể, với một danh mục các nhóm nghiên cứu chung hoạt động thường xuyên; các chương trình hợp tác và dự án có sự tham gia của nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp hai nước, trong đó một số dự án có thể tạo ra những sản phẩm, giải pháp công nghệ có giá trị thực tiễn.

Đặc biệt, Mạng lưới được kỳ vọng sẽ thu hút được sự tham gia ngày càng nhiều của thế hệ nhà khoa học trẻ hai nước và tạo ra ít nhất một số dự án kiểu mẫu về “cùng làm chủ công nghệ”, từ khâu nghiên cứu đến sản phẩm và thị trường, để làm hình mẫu nhân rộng; trở thành một cầu nối lâu dài giữa nguồn lực tri thức của cộng đồng người Việt Nam tại Nga với nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Về mặt thể chế, Đại sứ cũng kỳ vọng mạng lưới sẽ sớm được công nhận là một kênh hợp tác chính thức trong khuôn khổ Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Nga, tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực ổn định cho hoạt động lâu dài. Đại sứ quán Việt Nam tại Nga sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ mạng lưới trong vai trò cầu nối giữa các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp hai nước, cũng như phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan Việt Nam và Liên bang Nga để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình triển khai.

Có thể bạn quan tâm