Hướng đến nông dân chuyên nghiệp

Nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp và từ sản xuất đơn lẻ sang liên kết chuỗi để nâng cao giá trị. Để bắt nhịp xu hướng đó, cần có lớp nông dân chuyên nghiệp, có tri thức, kỹ năng, năng lực quản trị, biết ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số… trong sản xuất.

Nông dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La thu hoạch chè.
Nông dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La thu hoạch chè.

Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, năm 2025, lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 13,4 triệu người.

Tại tỉnh Sơn La, việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, tạo điều kiện ứng dụng khoa học-công nghệ, cơ giới hóa, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi liên kết tiêu thụ. Nhờ đó, nhiều nông sản chủ lực như xoài, nhãn, chanh leo, chuối đã xuất hiện tại các thị trường Trung Quốc, Mỹ, Australia và châu Âu, góp phần nâng cao giá trị gia tăng. Ngày càng nhiều nông dân chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết theo chuỗi giá trị; chủ động tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác, ứng dụng khoa học-công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, quản lý, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.

Ông Nguyễn Văn Báu, xã viên Hợp tác xã Sản xuất kinh doanh và Dịch vụ tổng hợp Bình Thuận, xã Bình Thuận (Sơn La) chia sẻ: “Gia đình tôi hiện có hơn 5ha chè, cà-phê xen canh cây ăn quả. Trước đây, làm ra sản phẩm gì thì bán sản phẩm đó nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Khi tham gia hợp tác xã, nông dân chúng tôi sản xuất bài bản hơn, tập trung vào những sản phẩm thị trường cần, bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm. Hợp tác xã đã xây dựng trang web riêng và mở nhiều cửa hàng giới thiệu, quảng bá sản phẩm, nâng cao giá trị nông sản. Đơn cử, chè sau khi chế biến sâu có giá bán 300.000-400.000 đồng/kg chè khô”.

Cũng theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, cản trở hành trình hướng đến người nông dân chuyên nghiệp khi tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt khoảng 4,7%. Nhiều nơi, người nông dân vẫn sản xuất dựa trên kinh nghiệm và theo hướng tăng sản lượng, chưa chú trọng đến quy trình VietGAP, GlobalGAP… khiến nông sản khó vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Và dù hơn 85% số nông dân sử dụng điện thoại thông minh nhưng chỉ khoảng 5 đến 7% ứng dụng công nghệ số vào quản lý nhật ký sản xuất hay thương mại điện tử.

Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân Việt Nam Phan Như Nguyện cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay là nhận thức, kiến thức và kỹ năng của một bộ phận nông dân về khoa học-công nghệ, chuyển đổi số còn hạn chế; tư duy sản xuất truyền thống, quy mô nhỏ lẻ, thiếu liên kết khiến việc ứng dụng công nghệ chưa hiệu quả, chi phí đầu tư cao và khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế. Ngoài ra, hạ tầng số ở khu vực nông thôn chưa đồng bộ, trong khi các dịch vụ hỗ trợ, nhất là thương mại điện tử, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của người dân.

Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Cao Minh Tuấn cho biết: “Hiện nay, thị trường quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải đối với nông sản. Để đáp ứng xu thế này và nâng cao giá trị sản phẩm, người nông dân cần đổi mới tư duy, sản xuất theo nhu cầu thị trường thay vì theo khả năng sẵn có; lấy hiệu quả và giá trị làm mục tiêu thay cho chạy theo sản lượng; tăng cường liên kết hợp tác xã, doanh nghiệp để hình thành chuỗi sản xuất bền vững. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình canh tác và chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp tín hiệu thị trường nhằm tối ưu chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản”.

Có thể bạn quan tâm