Từ mỏ dầu bị đánh giá không còn hiệu quả kinh tế, được chuyển nhượng với giá 1 USD, nhưng quá trình nghiên cứu, áp dụng các giải pháp khoa học-kỹ thuật đã giúp mỏ Đại Hùng “hồi sinh” với doanh thu hàng tỷ USD. Không những đạt doanh thu lớn mà thành tựu do mỏ Đại Hùng mang lại còn khẳng định năng lực làm chủ khoa học, công nghệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi.
Giám đốc Chi nhánh Thăm dò khai thác dầu khí Nam Côn Sơn (PVEP-NCS) Nguyễn Xuân Ninh cho biết, mỏ Đại Hùng được phát hiện tại vùng biển Nam Côn Sơn trong điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp, ở độ sâu hơn 100m.
Giai đoạn từ năm 1993-1999, các tập đoàn dầu khí quốc tế lớn như BHP (Australia) và Petronas (Malaysia) đã áp dụng các mô hình công nghệ ngoại nhập với công nghệ khai thác ngầm đắt đỏ, nhưng thất bại do đánh giá sai về mức độ phân khối và sự sụt giảm áp suất.
Hậu quả, sản lượng lao dốc từ 35 nghìn thùng/ngày xuống còn hơn 2.000 thùng/ngày, dẫn đến việc các nhà thầu rút lui và chuyển giao lại dự án cho phía Việt Nam với giá 1 USD, mỏ Đại Hùng đối diện nguy cơ đóng cửa cùng hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu áp dụng khoa học-công nghệ trở thành yêu cầu sống còn để hồi sinh mỏ, tránh lãng phí tài nguyên quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và khẳng định chủ quyền biển đảo.
Hàng loạt giải pháp kỹ thuật được nghiên cứu, áp dụng đã giúp mỏ Đại Hùng “lột xác”. Từ một mỏ dầu khai thác dựa vào năng lượng tự nhiên của vỉa và suy giảm nhanh, đến nay, Đại Hùng được chuyển đổi thành mỏ dầu vận hành bằng các công nghệ hiện đại, tối tân trên thế giới.
Doanh thu lũy kế hết năm 2025 đạt hơn 4,5 tỷ USD, nộp ngân sách 650 triệu USD và chuẩn bị ghi dấu mốc chuyến bán dầu thứ 200.
“Những kết quả đạt được mang lại hiệu quả kinh tế lớn, đồng thời khẳng định năng lực làm chủ khoa học, công nghệ của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi. Bên cạnh đó, sự có mặt liên tục của đội ngũ kỹ sư, người lao động tại mỏ Đại Hùng ở vùng nước sâu, xa bờ còn khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển. Các công trình dầu khí tại mỏ không chỉ phục vụ hoạt động khai thác mà còn là điểm tựa hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển; sẵn sàng hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn, cấp nước ngọt, nhiên liệu và cấp cứu y tế khi cần thiết”, ông Nguyễn Xuân Ninh nhấn mạnh.
Phó Chủ tịch Hội Dầu khí Thành phố Hồ Chí Minh Ngô Hữu Hải thông tin thêm, sau khi các tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới rút lui, việc Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) tiếp nhận dự án là bước ngoặt lịch sử, đánh dấu giai đoạn người Việt tự chủ hoàn toàn công nghệ khai thác dầu khí nước sâu.
Chìa khóa để hồi sinh mỏ chính là cuộc cách mạng trong xử lý và minh giải địa chấn. Công nghệ mới giúp loại bỏ các tín hiệu nhiễu, làm rõ hệ thống đứt gãy địa chất khiến các nhà thầu trước đây nhận diện sai cấu trúc mỏ.
Quan trọng hơn, nhóm nghiên cứu không chỉ ứng dụng công nghệ sẵn có mà còn hiệu chỉnh, “may đo” giải pháp phù hợp điều kiện đặc thù của Đại Hùng, giải quyết những điểm nghẽn mà các nhà điều hành nước ngoài chưa thể vượt qua.
Điểm nhấn chiến lược là việc chuyển đổi từ mô hình giếng ngầm dưới đáy biển sang giàn đầu giếng cố định kết nối với giàn xử lý trung tâm (FPU), qua đó góp phần tối ưu hiệu quả đầu tư và nâng cao khả năng quản trị khai thác.
Cùng với đó, các giải pháp giải mã cấu trúc địa chất phức tạp bằng mô hình vận tốc dị hướng nghiêng TTI, nghịch đảo địa chấn tích hợp, công nghệ khoan định hướng LWD và hệ thống hoàn thiện đa tầng thông minh đã được ứng dụng, giúp hoạt động khai thác từng bước chuyển sang phương thức chủ động hơn dựa trên dữ liệu.
Kết quả, dự án từng đứng trước nguy cơ đóng cửa đã trở thành mỏ dầu có doanh thu nhiều tỷ USD, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và dự kiến đạt tổng sản lượng khoảng 123 triệu thùng dầu đến năm 2034.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Dương Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, giá trị cốt lõi của công trình nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng không nằm ở con số doanh thu mà ở năng lực khoa học, công nghệ được hình thành trong suốt quá trình chinh phục một mỏ dầu đặc biệt phức tạp. Nếu chỉ áp dụng máy móc các mô hình công nghệ sẵn có sẽ không thể giải quyết được bài toán của mỏ Đại Hùng.
Thành công của công trình đến từ việc các nhà khoa học Việt Nam chủ động nghiên cứu lại toàn bộ đặc điểm địa chất, xây dựng giải pháp phù hợp điều kiện thực tế của mỏ. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị của trí tuệ và năng lực khoa học, công nghệ trong nước.
“Nếu mỏ Bạch Hổ từng giúp Việt Nam có niềm tin rằng người Việt Nam có thể làm chủ công nghệ khai thác dầu khí thì Đại Hùng là minh chứng cho thấy người Việt Nam có thể tạo ra những đột phá, đạt trình độ tương đương các công ty dầu khí quốc tế trong xử lý những mỏ có điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp. Sự trưởng thành vượt bậc về khoa học công nghệ đã hồi sinh từ một mỏ không hiệu quả thành một tài sản quốc gia có giá trị hàng tỷ USD. Việc nâng hệ số thu hồi dầu từ 14,85% lên mục tiêu 23,17%, tương đương thu hồi thêm 55 triệu thùng dầu, góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2034 và xa hơn nữa”, GS,TS Dương Ngọc Hải khẳng định.