Theo thống kê đưa ra tại Hội thảo, ở nước ta hiện nay, số người tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công tác xã hội (CTXH) chiếm khoảng 25% dân số. Trong đó, có khoảng hơn 10 triệu người cao tuổi; 7,6 triệu người khuyết tật; 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng; 8,23% hộ nghèo; 5,41% hộ cận nghèo, khoảng 2,8 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hằng năm. Ngoài ra, có hàng nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, đối tượng nghiện ma túy, nạn nhân bị bạo lực, bạo hành, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; nhiều hộ dân bị thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa…
Trong khi đó, mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH mới hình thành ở ngành lao động, thương binh và xã hội là chủ yếu (hiện nay, có khoảng hơn 400 cơ sở), bước đầu được thí điểm ở các ngành y tế, giáo dục với phạm vi, quy mô nhỏ, số lượng đối tượng được hưởng dịch vụ rất hạn chế. Các dịch vụ CTXH chưa đa dạng; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn; năng lực cung cấp dịch vụ và chăm sóc, trợ giúp đối tượng các cơ sở đạt hiệu quả chưa cao…
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH còn mỏng, chưa được đào tạo chuyên nghiệp. Phần lớn được đào tạo từ ngành nghề khác hoặc một số ít thậm chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt, đội ngũ cộng tác viên CTXH tại cộng đồng mới chỉ bước đầu được hình thành tại một số địa phương.
Đến nay, trong lĩnh vực CTXH, Chính phủ đã ban hành bốn nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành bốn quyết định; các bộ, ngành ban hành sáu thông tư liên tịch; bảy thông tư… Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp tại Việt Nam. Thực hiện Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25-3-2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32), nhiều năm qua, các bộ, ngành và địa phương đã triển khai bước đầu đạt được kết quả quan trọng trong các lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và phát triển mạng lưới cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH; truyền thông và hợp tác quốc tế phát triển nghề.
TS Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội để trợ giúp các đối tượng như: Người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nhiễm HIV… đã được quy định tại nhiều luật, bộ luật chuyên ngành, bao gồm: Bộ luật Lao động; Luật Người cao tuổi; Luật Trẻ em… và nhiều chương trình, đề án, chính sách trợ giúp xã hội giải quyết trợ cấp hằng tháng cho hàng triệu người, các đối tượng trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý phát triển nghề CTXH chưa được hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của công chức, viên chức, nhân viên CTXH chưa được xác địch cụ thể trong một số bộ luật, luật liên quan; chưa có luật quy định riêng về CTXH cho trợ giúp đối tượng yếu thế; các văn bản pháp luật quy định về công tác xã hội có giá trị pháp lý tương đối thấp, chủ yếu là nghị định và thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan.
Để nghề công tác xã hội thật sự phát triển, phục vụ cho công tác an sinh xã hội, các đại biểu đã đề xuất nhiều nội dung, kiến nghị. Trong đó, nổi bật là việc cần xây dựng hệ thống văn bản pháp luật tốt trong lĩnh vực nghề công tác xã hội. Bởi lẽ, đối với nhiều quốc gia trên thế giới, nghề công tác xã hội đã phát triển thành chuyên nghiệp với một hệ thống pháp luật hết sức cụ thể.