Hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ

Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vừa tổ chức kỳ vọng cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ.

Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.
Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.

Năm trụ cột của khung chính sách quản trị tài sản trí tuệ

Nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết của việc định hình khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 1% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, đồng thời yêu cầu xây dựng các luật về bản quyền tác giả và luật phát triển công nghiệp văn hóa, hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số và hình thành sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật dưới dạng tài sản số.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam có nêu bảo đảm mức chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội.

Bên cạnh đó, Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa là những ngành tạo ra sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, trong đó tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung. Từ đó, tài sản trí tuệ đã được xác lập như một cấu phần nội tại của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khung chính sách hỗ trợ quản trị có tính hệ thống và khả thi.

tai-san-tri-tue2.jpg
Chuyên gia, nhà khoa học trao đổi về hoàn thiện khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương cho rằng, một tác phẩm nghệ thuật, một thiết kế, một bộ sưu tập thời trang, một chương trình biểu diễn… đều chứa đựng những tài sản trí tuệ có giá trị rất lớn. Nếu tài sản trí tuệ đó không được nhận diện đúng, đăng ký và bảo hộ đầy đủ, định giá phù hợp, quản trị hiệu quả và thương mại hóa có tính chiến lược thì giá trị sáng tạo rất dễ bị thất thoát, sao chép, không chuyển hóa được thành giá trị kinh tế và giá trị xã hội.

Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sản phẩm mà cần phải xây dựng được một hệ sinh thái, quản trị tài sản trí tuệ từ sáng tạo, xác lập quyền, bảo hộ, định giá, khai thác, thương mại hóa, phân phối lợi ích tái đầu tư cho sáng tạo. Đây chính là một trong những vấn đề có tính nền tảng đối với sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở nhận diện những điểm nghẽn của thực trạng quản trị tài sản trí tuệ ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn trước năm 2025 cũng như đánh giá hệ thống chính sách phát triển văn hóa sau năm 2025 đã mở ra hành lang pháp lý, tạo bước đột phá chiến lược về phát triển ngành công nghiệp văn hóa, các nhà khoa học, chuyên gia tại tọa đàm đã đề xuất khung cấu trúc hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ ngành công nghiệp văn hóa với 5 thành phần chính, gồm: thể chế, chính sách và cơ quan điều phối; hạ tầng văn hóa số và công nghệ bảo vệ tài sản trí tuệ; mạng lưới dịch vụ trung gian và sàn giao dịch tài sản trí tuệ; thị trường tài chính và đầu tư sáng tạo tài sản trí tuệ; mạng lưới chủ thể sáng tạo và cộng đồng.

Cơ chế vận hành hệ sinh thái đó theo chu kỳ khép kín, có sự hỗ trợ của nền tảng công nghệ số. Cụ thể, ở giai đoạn khởi tạo, chủ thể sáng tạo dựa trên kho tàng tri thức khoa học mới, kho tàng di sản văn hóa truyền thống và nền tảng công nghệ số để tạo ra sản phẩm tài sản trí tuệ sáng tạo mới dưới dạng số hóa hoặc dạng truyền thống.

Ở giai đoạn xác lập và số hóa, tài sản trí tuệ được tích hợp vào hạ tầng văn hóa số, tự động được cấp mã định danh số và mã hóa trên công nghệ blokchain.

Giai đoạn định giá và cấp phép, tài sản trí tuệ sẽ được mạng lưới dịch vụ trung gian tiến hành định giá, đưa lên sàn giao dịch tài sản trí tuệ số để cấp phép, chuyển nhượng hoặc làm tài sản thế chấp.

Giai đoạn tài chính hóa, tái đầu tư và trích chia lợi ích cộng đồng, dòng vốn từ thị trường tài chính thu được từ thương mại hóa tài sản trí tuệ sẽ được tái đầu tư vào nhà sáng tạo, đồng thời trích chi trả lợi ích cho cộng đồng sở hữu tri thức truyền thống.

Để tài sản trí tuệ thành tài sản bảo đảm

Một vấn đề quan trọng được các chuyên gia tại tọa đàm đề cập là định giá tài sản trí tuệ để tài sản trí tuệ được chấp nhận là tài sản bảo đảm. Việt Nam đã có chuẩn mực thẩm định giá về tài sản vô hình tại Thông tư 37/2024/TT-BTC và các chuẩn mực về cách tiếp cận thị trường, chi phí và thu nhập tại Thông tư 32/2024/TT-BTC. Bộ luật Dân sự quy định quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản có thể dùng để góp vốn. Nghị định 34/2028/NĐ-CP xác định quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp là một trong các biện pháp bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn.

Tuy nhiên còn nhiều rào cản khiến tài sản trí tuệ chưa trở thành tài sản bảo đảm trên thực tế như: thiếu dữ liệu về thị trường các giao dịch tương tự; sản phẩm văn hóa có vòng đời ngắn, giá trị phụ thuộc nhiều vào thị hiếu, xu hướng nên khó dự báo khả năng tạo doanh thu trong tương lai; doanh nghiệp chưa xác lập, kiểm kê, quản lý đầy đủ tài sản trí tuệ khiến khó chứng minh đóng góp của tài sản trí tuệ vào doanh thu; thị trường thiếu các tổ chức môi giới, sàn giao dịch và dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp….

tai-san-tri-tue4.jpg
Chuyên gia, nhà khoa học trao đổi về hoàn thiện khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ.

Trên cơ sở đó, các chuyên gia đề xuất cần chuẩn hóa quy trình định giá tài sản trí tuệ; xây dựng cơ sở dữ liệu giao dịch tài sản trí tuệ, phát triển tổ chức trung gian định giá-bảo lãnh; kết hợp định giá tiền tệ với đánh giá kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ; cơ chế Nhà nước hỗ trợ chi phí định giá; nâng cao năng lực chuyên gia trong lĩnh vực định giá… Đó chính là các điều kiện cần để giá trị sáng tạo của doanh nghiệp được chuyển hóa thành năng lực đầu tư, tăng trưởng, và cạnh tranh trong nền kinh tế số.

Đặt hàng” nghiên cứu những vấn đề mới

Ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khung chính sách theo hướng bao quát toàn bộ vòng đời của tài sản trí tuệ, từ tạo lập, bảo hộ, khai thác đến bảo vệ và thực thi quyền. Dẫn lại trao đổi với Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), ông Long cho biết, các ngành công nghiệp văn hóa đang duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hai con số trên thế giới, cho thấy đây đã trở thành một khu vực kinh tế có quy mô và vai trò ngày càng lớn. Trong đó, tài sản trí tuệ được xác định là một trong những trụ cột cốt lõi. Vì vậy, quản trị tài sản trí tuệ cũng phải được đặt ở vị trí trung tâm trong chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Theo Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, quản trị tài sản trí tuệ về bản chất là quản trị tài sản, với đặc thù là tài sản trí tuệ, bao gồm cả quá trình tạo lập, bảo hộ, khai thác, thương mại hóa và bảo vệ, thực thi quyền. Chính chuỗi hoạt động này khiến phạm vi của khung chính sách cần nghiên cứu tương đối rộng và đòi hỏi sự liên kết giữa nhiều công cụ quản lý. Trong đó, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ là một mắt xích đặc biệt quan trọng. Nếu quyền không được bảo vệ và thực thi hiệu quả thì những nỗ lực ở các khâu sáng tạo và bảo hộ trước đó khó có thể phát huy giá trị. Đây cũng là nội dung đã được nhấn mạnh trong những chủ trương gần đây của Bộ Chính trị, Chính phủ về tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Từ đó, ông Lưu Hoàng Long đề nghị nhóm nghiên cứu dành một cấu phần thích đáng trong khung chính sách cho câu hỏi làm thế nào nâng cao hiệu quả bảo vệ và thực thi quyền. Một trong những hướng Cục Sở hữu trí tuệ đang nghiên cứu là xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ và ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.

Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ “đặt hàng” nhóm nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận khái niệm tài sản trí tuệ để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và khả năng tương thích với quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu sâu thêm các khái niệm và cách tiếp cận của WIPO cùng các tổ chức quốc tế, ông kỳ vọng nhóm có thể đề xuất một khái niệm đủ chuẩn mực, làm cơ sở tham khảo cho quá trình sửa đổi pháp luật về sở hữu trí tuệ trong thời gian tới.

Xác định định giá là một khâu trong quá trình quản trị và thương mại hóa tài sản trí tuệ, ông Lưu Hoàng Long lưu ý với nhóm nghiên cứu để phân biệt rõ định giá và thẩm định giá, chính sách về định giá cần bảo đảm quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ, không thu hẹp quyền của chủ sở hữu đã được quy định tại pháp luật về giá. Tài sản trí tuệ dù có chứng thư thẩm định giá thì đối với tổ chức tín dụng đó vẫn là một rủi ro cần xác định khi nhận thế chấp loại tài sản này, vì thế quan trọng nhất là cần tích hợp vào trong quy trình đánh giá tài sản thế chấp để cho vay. Đây là vấn đề thế giới đang nghiên cứu, thử nghiệm và Việt Nam cũng cần nghiên cứu để có chính sách phù hợp.

Có thể bạn quan tâm