Hành trình theo đuổi những cuộc phẫu thuật ít tổn thương

Gắn bó nhiều năm với ngoại khoa, Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng, Phó Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam, giảng viên cao cấp Bộ môn Ngoại, Trường đại học Y Hà Nội luôn trăn trở làm thế nào để phẫu thuật ít gây tổn thương nhất cho người bệnh, thậm chí có thể tránh mổ khi còn giải pháp điều trị phù hợp.

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng (bên phải) chia sẻ về phẫu thuật ít xâm lấn. (Ảnh: T.H)
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng (bên phải) chia sẻ về phẫu thuật ít xâm lấn. (Ảnh: T.H)

Từ hành trình phát triển phẫu thuật cột sống ít xâm lấn đến những suy tư về nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện, ông theo đuổi một mục tiêu nhất quán làm sao giảm đau đớn, hạn chế biến chứng và tạo dựng môi trường điều trị an toàn hơn.

Dành tâm huyết nghiên cứu phương pháp để bệnh nhân ít phải mổ nhất

Tháng 4/2019, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, một bệnh nhân nữ 55 tuổi, quê Ninh Bình, được thực hiện phẫu thuật cột sống ít xâm lấn bằng đường bên (XLIF). Đây là ca phẫu thuật đánh dấu việc triển khai kỹ thuật này lần đầu tiên tại bệnh viện, với sự tham gia của Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng, Phó Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam, giảng viên cao cấp Bộ môn Ngoại, Trường đại học Y Hà Nội, nguyên Trưởng khoa Ngoại Thần kinh-Cột sống, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cùng các đồng nghiệp và chuyên gia đến từ Malaysia.

Trước đó, người bệnh thường xuyên đau vùng cột sống thắt lưng, có biểu hiện mất vững cột sống khiến việc đi lại khó khăn. Qua thăm khám và chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân bị trượt đốt sống L3-L4, có chỉ định phẫu thuật.

Sau hội chẩn, ê-kíp quyết định lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật cột sống ít xâm lấn bằng đường bên XLIF, một phương pháp tiếp cận cột sống từ phía bên cơ thể, không can thiệp trực tiếp vào ống sống.

Khác với những phương pháp phải tiếp cận qua khu vực có các dây thần kinh, kỹ thuật XLIF cho phép can thiệp gián tiếp, hạn chế nguy cơ tổn thương rễ thần kinh, chảy máu và những tác động không cần thiết lên cấu trúc cột sống.

Theo các bác sĩ, ưu điểm của kỹ thuật này là giảm mức độ xâm lấn, giảm đau sau phẫu thuật và tạo điều kiện để người bệnh hồi phục sớm hơn. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi phẫu thuật viên được đào tạo chuyên sâu, có kinh nghiệm và sự hỗ trợ của hệ thống trang thiết bị hiện đại.

thay-hung-5.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng tư vấn cho người bệnh.

Với Giáo sư Kiều Đình Hùng, ca phẫu thuật ấy là một dấu mốc trong hành trình theo đuổi những phương pháp điều trị ít gây tổn thương cho người bệnh.

Được đào tạo chuyên sâu về phẫu thuật thần kinh, cột sống tại Pháp vào các năm 2001 và 2002, ông sớm tiếp cận xu hướng phát triển các kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn. Trong quá trình làm nghề, những khó khăn và đau đớn mà bệnh nhân phải đối diện sau phẫu thuật càng khiến ông quan tâm đến việc cải tiến kỹ thuật.

Theo Giáo sư, ngoại khoa thế giới đã trải qua quá trình phát triển từ những đường mổ lớn đến các kỹ thuật can thiệp ngày càng nhỏ hơn. Xu hướng hiện nay không chỉ là xử lý được tổn thương mà còn phải hạn chế tối đa những tác động không cần thiết lên cơ thể.

Khi còn công tác tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, ông đã cùng các đồng nghiệp trẻ lựa chọn phát triển phẫu thuật cột sống ít xâm lấn, tập trung đào tạo đội ngũ và từng bước triển khai những kỹ thuật chuyên sâu. Một trong những kỹ thuật được ông đặc biệt quan tâm là phẫu thuật cột sống ít xâm lấn đường bên XLIF.

Theo Giáo sư, ưu điểm nổi bật của kỹ thuật này là không đi trực tiếp vào ống sống, nhờ đó có thể hạn chế những tác động lên các cấu trúc thần kinh trong quá trình phẫu thuật. Phương pháp được chỉ định cho một số trường hợp trượt đốt sống vùng thắt lưng, hẹp ống sống và thoát vị đĩa đệm ở mức độ phù hợp.

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng đã thực hiện 125 bài báo, trong đó 21 công bố quốc tế, cùng 12 cuốn sách chuyên ngành. Với 34 năm tham gia đào tạo, ông đã hướng dẫn thành công 6 nghiên cứu sinh, đang hướng dẫn 6 nghiên cứu sinh, đồng thời tham gia xây dựng chương trình đào tạo bác sĩ nội trú, chuyên khoa và sau đại học.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng có thể áp dụng kỹ thuật này. Những trường hợp bệnh tiến triển quá muộn, ống sống đã hẹp nghiêm trọng có thể không còn phù hợp với phương pháp ít xâm lấn. Vì vậy, việc thăm khám, đánh giá đúng tình trạng bệnh và lựa chọn thời điểm phẫu thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Theo chia sẻ của Giáo sư, đến nay đã có khoảng 50-60 ca được thực hiện bằng kỹ thuật XLIF. Tuy nhiên, do yêu cầu cao về chuyên môn, trang thiết bị và chi phí, phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi.

Dù vậy, ngay cả khi những kỹ thuật phẫu thuật đã mang lại kết quả tốt, ông vẫn tiếp tục nhận thấy những vấn đề cần giải quyết.

Trong quá trình phẫu thuật cột sống bằng nẹp vít, Giáo sư nhận thấy một số bệnh nhân vẫn phải chịu đau đớn sau mổ do dụng cụ cố định có thể cọ xát với các mô khi cơ thể vận động.

vlg02057.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng chia sẻ về những cải tiến kỹ thuật trong phẫu thuật

Điều đó khiến ông cùng các học trò tìm cách cải tiến kỹ thuật, lựa chọn dụng cụ sao cho phần thừa ra ngắn nhất có thể, nhằm hạn chế những tác động lên cơ thể người bệnh.

Tại Hệ thống Y-Dược Vietlife, Giáo sư Kiều Đình Hùng với vai trò là Chủ tịch Hội đồng chuyên môn Vietlife Group dành thêm tâm huyết phát triển lĩnh vực điều trị giảm đau, với mong muốn mở rộng các lựa chọn điều trị cho người bệnh trước khi phải áp dụng những biện pháp can thiệp nặng nề hơn.

Giáo sư kể về một bệnh nhân thoái hóa khớp gối từng được chỉ định phẫu thuật. Tuy nhiên, do người bệnh còn ngại mổ, ông đề nghị thử điều trị bằng phương pháp khác. Sau vài đợt tiêm huyết tương giàu tiểu cầu, tình trạng đau của bệnh nhân được cải thiện. Theo lời Giáo sư, đến nay đã 10 năm, người bệnh vẫn chưa phải phẫu thuật.

Một trường hợp khác mắc bệnh lý cột sống cũng từng được chỉ định phẫu thuật. Sau khi điều trị giảm đau, người bệnh đã trải qua khoảng 7-8 năm mà chưa phải mổ.

Từ những trường hợp thực tế, Giáo sư cho rằng điều trị giảm đau và một số phương pháp thuộc lĩnh vực y học tái tạo có thể giúp hạn chế những cuộc phẫu thuật không cần thiết ở nhóm bệnh nhân phù hợp.

Theo ước tính của ông, các phương pháp này có thể giúp giảm khoảng 20-30% số trường hợp cần phẫu thuật ở một số nhóm bệnh lý. Riêng với bệnh lý cột sống, ông đưa ra mức ước tính khoảng 10-20%, đồng thời nhấn mạnh hiện chưa có thống kê cụ thể để khẳng định tỷ lệ này.

Nỗi trăn trở về nhiễm khuẩn và khát vọng một môi trường phẫu thuật an toàn

Nếu phẫu thuật ít xâm lấn là hành trình tìm cách giảm những tổn thương trực tiếp lên cơ thể người bệnh, thì kiểm soát nhiễm khuẩn lại là một nỗi trăn trở khác mà Giáo sư Kiều Đình Hùng dành nhiều tâm huyết trong quá trình làm nghề.

Từng học tập và tham quan nhiều cơ sở y tế ở nước ngoài, ông đặc biệt quan tâm đến sự khác biệt trong thiết kế bệnh viện, tổ chức phòng mổ và quy trình kiểm soát vô khuẩn.

Một trong những trải nghiệm khiến ông suy nghĩ nhiều là thời gian học tập tại Pháp. Giáo sư kể rằng khi đó, ông chứng kiến những quy trình sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật khác với thực hành mà ông quan sát tại Việt Nam. “Vì sao nhiều bệnh nhân sau phẫu thuật tại Việt Nam phải sử dụng kháng sinh kéo dài, trong khi tại một số cơ sở ở nước ngoài, việc sử dụng kháng sinh dự phòng được tổ chức theo quy trình khác”, ông đặt câu hỏi.

Từ trải nghiệm của mình, ông đặc biệt chú ý đến điều kiện vô khuẩn, thiết kế khu phẫu thuật và cách thức vận hành bệnh viện. "Điều sợ nhất khi phẫu thuật chính là nguy cơ nhiễm trùng nếu không bảo đảm đúng tiêu chuẩn", Giáo sư chia sẻ.

thay-hung-11.png
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng.

Theo ông, nguy cơ nhiễm khuẩn không chỉ phụ thuộc vào thao tác của phẫu thuật viên trong phòng mổ mà còn liên quan đến hệ thống cơ sở vật chất, tổ chức các luồng di chuyển, chất lượng không khí và quy trình vận hành của bệnh viện. Điều ông mong muốn là mỗi phòng mổ có khả năng hoạt động tương đối độc lập.

Đó cũng là một trong những lý do Giáo sư Kiều Đình Hùng dành nhiều tâm huyết cho việc tham gia xây dựng Bệnh viện Quốc tế Vietlife. Giáo sư cho biết đã làm việc với các đơn vị tại Bỉ và châu Âu trong gần 2 năm để thiết kế dây chuyền y khoa cho bệnh viện, thời gian gấp đôi so với dự kiến ban đầu.

“Định hướng của chúng tôi sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực phẫu thuật thần kinh, cột sống, cơ xương khớp, chỉnh hình, ung bướu và giảm đau. Đây là những chuyên ngành đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu, trang thiết bị phù hợp và hệ thống hỗ trợ điều trị đồng bộ”, Giáo sư nói.

Định hướng của chúng tôi sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực phẫu thuật thần kinh, cột sống, cơ xương khớp, chỉnh hình, ung bướu và giảm đau. Đây là những chuyên ngành đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu, trang thiết bị phù hợp và hệ thống hỗ trợ điều trị đồng bộ.

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng

Bên cạnh đó, ông mong muốn tăng cường hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để các bác sĩ có chuyên môn cao ở nước ngoài đến Việt Nam trực tiếp tham gia điều trị, đồng thời giúp đội ngũ bác sĩ trong nước tiếp cận thêm những kỹ thuật và kinh nghiệm tiên tiến.

Theo Giáo sư, nếu có thể mời được các chuyên gia giỏi quốc tế trực tiếp phẫu thuật tại Việt Nam, người bệnh sẽ có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ chuyên sâu mà không nhất thiết phải ra nước ngoài điều trị với chi phí lớn. Tuy nhiên, điều ông dành nhiều tâm huyết vẫn là xây dựng được một hệ thống mà ở đó, năng lực chuyên môn của bác sĩ được hỗ trợ bởi cơ sở vật chất, trang thiết bị và quy trình vận hành phù hợp.

Với Giáo sư Kiều Đình Hùng, điều quan trọng không chỉ là thực hiện thành công một ca phẫu thuật, mà còn là giúp người bệnh ít đau đớn, hạn chế biến chứng và hồi phục tốt hơn. Đó cũng là điều ông luôn trăn trở và theo đuổi trong suốt những năm tháng làm nghề, với triết lý "Xâm lấn tối thiểu-Hiệu quả tối đa".

Có thể bạn quan tâm