Cuộc họp diễn ra tại trụ sở Cục Hải quan, với đoàn công tác phía Việt Nam do ông Nguyễn Anh Tài, Phó Trưởng ban Giám sát quản lý về hải quan, làm trưởng đoàn, cùng sự tham gia của các đơn vị chuyên trách. Đây là hoạt động chuẩn bị trước thời điểm Thông tư số 128/2026/TT-BTC chính thức có hiệu lực ngày 15/10/2026.
Nội dung làm việc tập trung vào những vấn đề trực tiếp phục vụ vận hành cửa khẩu thông minh, từ cơ sở pháp lý, cấu trúc dữ liệu trao đổi giữa hai bên đến quản lý phương tiện vận chuyển tự động không người lái và phối hợp mở rộng mô hình thí điểm.
Tại cuộc họp, phía Việt Nam giới thiệu bối cảnh ban hành Thông tư số 128/2026/TT-BTC và Nghị định số 336/2026/NĐ-CP. Trong đó, Thông tư số 128 quy định về kiểm tra, giám sát và quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải hoạt động trong khu vực cửa khẩu thông minh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nghị định số 336 quy định thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN.
Các văn bản này tạo cơ sở pháp lý trong nước để triển khai số hóa quy trình giao nhận hàng hóa và quản lý phương tiện tự động hoạt động xuyên biên giới. Trên cơ sở đó, việc phối hợp giữa cơ quan hải quan và các đơn vị vận hành của hai nước hướng tới thống nhất cách thức thực hiện, gắn quy trình nghiệp vụ với hạ tầng công nghệ phục vụ mô hình mới.
Một nội dung trọng tâm là thống nhất bộ dữ liệu logistics có cấu trúc “6+1”. Bộ dữ liệu gồm sáu thông tin: mã cửa khẩu, số hiệu phương tiện, tên hàng, trọng lượng, số container, trạng thái thông quan; cùng thông tin về mã phương tiện tự động IGV/AGV.
Việc trao đổi bộ dữ liệu này được thực hiện thông qua kênh liên kết giữa doanh nghiệp quản lý vận hành của hai nước trước khi nâng cấp đồng bộ Cổng thông tin một cửa quốc gia. Nội dung phối hợp vì vậy tập trung vào cả thông tin về hàng hóa, tình trạng thông quan và nhận diện phương tiện vận chuyển, phục vụ quy trình giao nhận và giám sát xuyên biên giới.
Đối với phương tiện tự động không người lái IGV/AGV, hai bên tập trung thống nhất quy trình giám sát di chuyển, đăng ký mã nhận diện và thời gian lưu giữ phương tiện không quá 48 giờ. Đây là những nội dung nghiệp vụ được đặt ra cùng với yêu cầu kết nối dữ liệu để phục vụ quản lý phương tiện trong quá trình vận hành.
Bên cạnh quy trình hoạt động thông thường, cuộc họp còn đề cập việc xây dựng kịch bản ứng cứu nhanh khi phương tiện gặp sự cố kỹ thuật hoặc mất kết nối. Nội dung này gắn việc triển khai công nghệ vận chuyển tự động với phương án xử lý các tình huống phát sinh, phục vụ công tác giám sát và phối hợp vận hành giữa hai bên.
Về mở rộng mô hình thí điểm, ngoài Lạng Sơn, Hải quan Việt Nam đề nghị Hải quan Nam Ninh phối hợp cung cấp thông tin, lựa chọn phương thức vận chuyển tối ưu cho cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam)-Đông Hưng (Trung Quốc), tại khu vực cầu Bắc Luân II.
Sự phối hợp giữa hải quan hai nước, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp vận hành được kỳ vọng sẽ góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm ùn tắc tại khu vực biên giới. Việc thống nhất quy trình nghiệp vụ, kết nối dữ liệu và chuẩn bị phương án quản lý phương tiện tự động cũng hướng tới thúc đẩy thương mại Việt Nam-Trung Quốc phát triển bền vững.