Ba năm qua, Hợp tác xã dược liệu Thuận Tài, xã Đăk Pék tập trung phát triển vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất và tiêu thụ các loại cây dược liệu, nông nghiệp chủ lực của địa phương. Hợp tác xã và người dân mở rộng hơn 15 ha sâm Ngọc Linh, hình thành chuỗi tiêu thụ với sản lượng mỗi năm đạt từ 80 đến 100 kg gồm củ, thân, lá và cây giống.
Cùng với đó, hợp tác xã phát triển vùng nguyên liệu đẳng sâm, cà-phê cùng nhiều loại dược liệu như gừng, nghệ, thất diệp. Nhờ áp dụng quy trình kỹ thuật, sử dụng chế phẩm sinh học và canh tác theo hướng an toàn, chất lượng nông sản, dược liệu ngày càng được nâng lên. Mỗi năm, hợp tác xã bao tiêu, thu mua khoảng 500 tấn cà-phê và 250 tấn dược liệu.
Theo Giám đốc Hợp tác xã dược liệu Thuận Tài Nguyễn Viết Tài, khó khăn lớn nhất hiện nay là khâu bảo quản nông sản, dược liệu tươi vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống cho nên thời gian lưu trữ ngắn, dễ hư hỏng.
“Điều kiện thời tiết ở địa phương thường mưa nhiều, độ ẩm cao, ảnh hưởng lớn đến chất lượng dược liệu sau thu hoạch. Trong khi đó, hợp tác xã chưa có điều kiện để đầu tư kho lạnh, nhà sấy và thiết bị bảo quản đồng bộ. Chi phí để đầu tư máy móc, công nghệ còn quá cao. Một số sản phẩm bị giảm chất lượng, hao hụt trọng lượng trong quá trình lưu trữ và vận chuyển”, ông Nguyễn Viết Tài chia sẻ.
Với lợi thế vùng nguyên liệu nông sản, dược liệu phong phú, nhiều doanh nghiệp ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi đã mở rộng diện tích và quy mô sản xuất. Tuy nhiên, do thiếu hệ thống bảo quản chuyên nghiệp, nhiều cơ sở vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển thị trường tiêu thụ. Mỗi năm, Công ty cổ phần dược liệu Lâm Thịnh, xã Đăk Tô liên kết thu mua khoảng 300 tấn vỏ cây bời lời cùng hơn 20 tấn đẳng sâm và các loại dược liệu khác của người dân.
Giám đốc Công ty Lâm Thị Kim Oanh cho biết, tổng sản lượng nông sản, dược liệu công ty thu mua hằng năm lên đến hàng trăm tấn, trong đó phần lớn được bảo quản trong kho lạnh để phục vụ sơ chế, sấy khô và sấy dẻo.
“Sản lượng lưu trữ trong kho lạnh hiện chỉ khoảng một tấn. Đơn vị rất cần thêm kho lạnh hoặc kho đông để bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhất là vào mùa thu hoạch cao điểm. Hiện mặt bằng hạn chế, xưởng sản xuất nhỏ nên doanh nghiệp mong muốn được bố trí quỹ đất trong khu công nghiệp để mở rộng quy mô, đầu tư hệ thống bảo quản chuyên sâu”, bà Lâm Thị Kim Oanh chia sẻ.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đã hình thành nhiều cơ sở sơ chế, chế biến và bảo quản nông sản. Một số doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sấy, đóng gói, kho lạnh, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Toàn tỉnh hiện có khoảng 27 doanh nghiệp tham gia chế biến, thu gom, sơ chế và xuất khẩu nông sản, thủy sản. Các mặt hàng chủ lực gồm cà-phê, sầu riêng, hồ tiêu, dứa, ớt, chanh dây và tinh bột sắn.
Nhiều doanh nghiệp đã chuyển hướng đầu tư theo hướng hiện đại, đẩy mạnh chế biến sâu gắn với xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, từng bước nâng giá trị nông sản địa phương. Một số sản phẩm từ sắn, lúa gạo, cà-phê và dược liệu đã được chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng cao hơn.
Theo ông Nguyễn Viết Tài, để giải quyết bài toán bảo quản sau thu hoạch, cần có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư kho bảo quản, hệ thống sấy và thiết bị chế biến. Đồng thời, tăng cường chuyển giao kỹ thuật bảo quản nông sản, dược liệu sau thu hoạch; hỗ trợ kết nối thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và chuỗi liên kết sản xuất bền vững.
Tỉnh Quảng Ngãi đặt mục tiêu đến năm 2030 có hơn 70% số cơ sở chế biến, bảo quản nông sản chủ lực đạt trình độ công nghệ tiên tiến; tốc độ tăng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến nông sản đạt hơn 10% mỗi năm. Để đạt được mục tiêu đó, các xã, phường phía tây tỉnh Quảng Ngãi cần đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, kho lạnh và logistics nông nghiệp; ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chiết xuất dược liệu tiên tiến và các dây chuyền chế biến hiện đại.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Quang Trung cho rằng, địa phương cần tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành vùng nguyên liệu ổn định, quy mô phù hợp với nhu cầu chế biến và thị trường tiêu thụ. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân theo chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó, địa phương cần đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuê đất đầu tư hạ tầng chế biến, bảo quản nông sản, góp phần giải quyết bài toán bảo quản cho nông sản vùng cao.