Văn hóa và phát triển

Dưới tán rừng Nà Loáng

Khu rừng Nà Loáng thuộc xã Kim Bình (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) là nơi diễn ra Ðại hội lần thứ II của Ðảng CS Việt Nam, tháng 2-1951. Hơn nửa thế kỷ qua, trên địa danh lịch sử ấy, Ðảng bộ và đồng bào các dân tộc Kim Bình luôn đoàn kết một lòng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng, đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Kim Bình đã được Ðảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND  vào năm 1998.

Tỉnh lộ 185 men theo tả ngạn dòng sông Lô và sông Gâm, trải nhựa phẳng lỳ uốn lượn, xuyên qua những bản làng trù phú, rừng cây tươi tốt. Con đường thật sự mang lại lợi ích to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng cho địa phương. Những ngôi nhà hai tầng, ba tầng bề thế với nhiều kiểu dáng mới, lạ mắt. Cửa hàng, cửa hiệu, quán xá nhộn nhịp dọc con đường. Ðứng trên đỉnh đèo Kéo Nàng (cao hơn mặt nước biển gần 1.000 m), chúng tôi ngắm nhìn trời đất. Gió rười rượi thổi về không ngớt, cả vùng rừng lao xao, mướt mát trong sương sớm. Ðã từng sống lâu năm với rừng, đến nhiều vùng rừng của Tổ quốc, nhưng tôi dám chắc rằng, trên đất nước ta không có nhiều lắm những vùng rừng rộng lớn như Chiêm Hóa, Nà Hang... Ðộ che phủ ở đây đạt hơn 64%, là một con số lý tưởng, có thể đầu tư mở rộng quy mô thành vùng sinh quyển của quốc gia. Nơi đây, ngoài đất đai còn có rừng - rừng là 'vàng ròng' của muôn đời, rừng đang sống cùng những con người nhân hậu đang từng ngày, từng giờ hăng say lao động, làm giàu đẹp cho quê hương.

Di tích Kim Bình được xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng đặc biệt cấp quốc gia, cách thị trấn Vĩnh Lộc 19 km về phía nam, tiếp giáp với các xã: Ngọc Hội, Vinh Quang, Bình Nhân, Phú Bình, Tri Phú. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, Kim Bình thuộc xã Vinh Quang. Khu rừng nơi họp Ðại hội toàn quốc lần thứ II của Ðảng nằm dưới chân núi Hùng tên là rừng Nà Loáng, có dòng suối Cổ Linh trong xanh. Suối bắt nguồn từ xã Linh Phú chảy qua Tri Phú, rồi qua Kim Bình khoảng 5 km, tiếp tục chảy qua xã Vinh Quang, nhập vào sông Gâm ở địa phận Phố Trinh. Tôi thật sự bị bất ngờ trước vẻ đẹp tĩnh lặng và huyền bí của khu rừng đặc dụng Kim Bình. Khu rừng rộng 247 ha, trong đó 9 ha bao quanh 11 điểm di tích mới được tôn tạo. Hướng dẫn viên Lý Thị Thúy, 25 tuổi, người dân tộc Dao Tiền, đưa chúng tôi từ điểm di tích này sang điểm di tích khác. Gương mặt của chị đẹp, giọng nói đầy truyền cảm, tôi có cảm giác như đang được sống lại giữa những ngày sôi động của Ðại hội. Nhà bia tưởng niệm ở ngay bìa rừng, trên tấm bia đá lớn ghi đậm dòng chữ: Ðại hội đại biểu lần thứ II, thương nhớ các đồng chí đã hy sinh vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi bồi hồi dâng hương, lặng lẽ cúi đầu tưởng nhớ những người con bất tử của dân tộc và cách mạng Việt Nam. Theo con đường nhỏ lát bê-tông, có bóng mát của hàng cọ bầu, chúng tôi thăm nơi Bác Hồ ở và làm việc. Lán Bác Hồ ở có hình dáng như ngôi lán Nà Lừa ở  Tân Trào (Sơn Dương). Cũng bậc thang, sàn tre, phên nứa, mái gồi... ấy, từ lâu đã trở nên quen thuộc và thân thiết với mọi người Việt Nam. Hội trường lớn nơi diễn ra Ðại hội cũng làm bằng tre, gỗ, nứa, mái lợp lá cọ cao ráo thoáng mát, hai bên có gác lửng dành cho nhà báo tác nghiệp. Ngoài ra, còn có khu nhà cho đại biểu quốc tế, nhà ở của bộ đội bảo vệ, cán bộ và nhân viên phục vụ...

Trong khuôn viên Ðại hội có cây sui già đã 100 tuổi. Cây sui như một chứng nhân lịch sử, tán lá xanh non rợp mát, dây leo, phong lan bám đầy vào thân cành, làm cho cây càng trở nên cổ thụ hơn. Mọi văn kiện quan trọng của Ðại hội được chuẩn bị ở Kiên Ðài, một cơ sở cách mạng nổi tiếng của Chiêm Hóa. Ðó chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Ðảng, Chính phủ và nhiều cơ quan của Trung ương đã làm việc, từ tháng Giêng năm 1951... Một địa danh cách Thủ đô Hà Nội hơn 200 km, giao thông khó khăn, chỉ có lòng dân thủy chung và thăm thẳm đại ngàn, lại là nơi diễn ra Ðại hội lần thứ II của Ðảng. Cũng tại nơi đây đã diễn ra Ðại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh, thành lập Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Hội nghị Liên minh ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Ðại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất.

Trụ sở làm việc của xã Kim Bình là khu nhà xây kiên cố, khang trang, có hội trường lớn, cơ ngơi làm việc của cán bộ khá tươm tất, dàn máy tính nối mạng in-tơ-nét. 94,7% số cán bộ của xã đã có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó 31,8% số cán bộ đạt trình độ đại học. Ðảng bộ với 144 đảng viên, 17 chi bộ thôn, bản, nhiều năm đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Sự nghiệp giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe cho người dân được địa phương đầu tư chăm lo. Xã có một phòng khám đa khoa khu vực, với nhiều trang thiết bị hiện đại. Kim Bình là một trong những cơ sở đầu tiên của huyện Chiêm Hóa có đủ trường học với bốn cấp học, tổng cộng gần 800 học sinh và 54 cán bộ, giáo viên. Năm 2009, trường trung học cơ sở của xã đạt chuẩn quốc gia.

Xã hiện có 1.074 hộ gia đình, với nhiều dân tộc anh em như Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Mường..., 13 thôn, bản trong xã đã có đường ô-tô đi lại thuận lợi. Diện tích tự nhiên của xã là 4.153 ha, trong đó 70% là diện tích rừng, 126 ha trồng mía, 156 ha trồng chuối. Kim Bình có thể tích tụ đất đai để tiến tới làm ăn lớn. Hiện toàn xã có hơn 30 máy phục vụ sản xuất nông nghiệp, nên việc giải quyết 162 ha đất gieo trồng không mất nhiều thời gian như trước đây. Sản lượng lương thực năm nay đạt khoảng 2.400 tấn, bình quân 502 kg/người/năm. Ở Kim Bình có nhiều chân ruộng chủ động được nguồn nước nên việc nuôi cá ruộng kết hợp đã đem lại lợi ích không nhỏ cho người dân. Tỉnh đầu tư hơn 300 triệu đồng để xã xây dựng nhà xưởng chế biến. Mắm cá Cổ Linh là đặc sản của địa phương, đã có thương hiệu, được ưa chuộng ở thị trường. Năm 2009, toàn xã sản xuất được 1,1 tấn, năm 2010 là ba tấn, giá bán 100 nghìn đồng/kg... Cây mía, cây chuối ở đây cũng là những loại cây góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Với soi bãi, nương đồi màu mỡ có thể tiếp tục tăng diện tích trồng các loại cây này. Toàn xã có hơn 20 lò nấu đường thủ công. Nếu nâng quy mô lên sản xuất lớn thì diện tích cây mía của xã phải tăng gấp hai lần và sản lượng đường bán ra thị trường cũng không dừng lại ở con số 70 nghìn tấn như hôm nay. Cây chuối nơi đây đang là loại cây đem lại nguồn thu nhập đáng kể. Ở Kim Bình, bình quân mỗi ha đất trồng được 600 khóm chuối, trung bình mỗi khóm cho thu hoạch một buồng, giá bán 130 nghìn đồng/buồng, thì thu nhập hằng năm của người trồng chuối cũng được 70 - 80 triệu đồng/ha. Thân cây chuối sau thu hoạch dành cho chăn nuôi gia cầm, gia súc. Cây chuối được trồng theo lối thâm canh, với hơn 70 ha dành cho xuất khẩu. Anh Nông Văn Thưởng ở thôn Ðồng Ẻn, là một trong những hộ nghèo, nhờ vay vốn trồng chuối mà kinh tế gia đình đã khá lên. Anh có sáng kiến đứng ra thành lập tổ thu gom, làm đầu mối bán hàng cho bà con. Tổ thu gom có 20 người hoạt động thường xuyên, cứ hai ngày xuất một chuyến chuối, mỗi chuyến chừng 20 tấn. Nhiều người dân còn nấu rượu từ chuối, hương vị rượu chuối Kim Bình rất đặc biệt, ít vùng quê nào có được. Từ cách làm ăn đó, mà Kim Bình đã có gần 150 hộ thoát nghèo, 400 hộ đã được vay vốn ưu đãi, nguồn của Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện dự án Ða dạng hóa thu nhập nông thôn, với hàng trăm tỷ đồng đang phát huy hiệu quả.

So với các vùng quê khác, Kim Bình là địa phương hội tụ nhiều tiềm năng. Ðó là bề dày truyền thống cách mạng, là nhân dân các dân tộc anh em giàu lòng yêu nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng. Bên cạnh đó là điều kiện đất đai màu mỡ, nguồn lao động dồi dào. Có nhiều điểm di tích lịch sử cách mạng có thể khai thác để phát triển du lịch, dịch vụ. Theo lời Chủ tịch UBND xã Ma Quang Bắc, 37 tuổi và là người dân tộc Tày, với tất cả những thế mạnh đó, trong thời gian tới, nhiệm vụ hàng đầu và cũng là nền tảng để Kim Bình tiếp tục phát triển là hoàn thành nhanh việc quy hoạch nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, tận dụng hiệu quả các cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh, của huyện, huy động nguồn vốn và nhân lực để bê-tông hóa tất cả các tuyến đường từ trung tâm xã cho đến thôn, bản theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Ðồng thời, xã tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa để tăng thu nhập cho nhân dân, phát triển chăn nuôi đại gia súc, chú trọng phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hộ, khơi dậy và khai thác tiềm năng của địa phương. Tất cả những việc làm đó đều nhằm mục đích đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, văn minh...

Có thể bạn quan tâm