Đổi mới sáng tạo trong khoa học xã hội và nhân văn

Trong kỷ nguyên công nghệ, với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, các nghiên cứu nếu chỉ dừng ở việc mô tả hiện tượng, tổng hợp tài liệu, lặp lại những khung lý thuyết quen thuộc ít có khả năng tác động vào đời sống thì khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn sẽ ngày càng lớn. 

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi tri thức chuyên ngành.
Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi tri thức chuyên ngành.

Do đó, thúc đẩy đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết, để nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đi vào thực chất, giúp giải các bài toán cụ thể mà xã hội đang đặt ra.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An (Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương): Đổi mới sáng tạo không phải là số hóa các phương thức nghiên cứu cũ, mà là công nghệ giúp thay đổi năng lực nhận thức, giải quyết vấn đề của một đề tài nghiên cứu. Theo đó, cần chuyển dịch mô hình nghiên cứu thuần túy mô tả sang nghiên cứu để dự báo, thử nghiệm và kiến tạo giải pháp. Một đề tài có giá trị thời đại sẽ phải trả lời cho được các câu hỏi thực chất như: Xã hội đang thay đổi thế nào, vì sao có sự thay đổi đó và tri thức nghiên cứu có thể giúp các nhà hoạch định chính sách trong quản trị xã hội tốt hơn ở mức độ nào.

Trong thời đại công nghệ hiện nay, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội phải là người đồng kiến tạo tri thức, có khả năng tham gia các bài toán đổi mới. Thí dụ, để phát triển một hệ thống AI trong y tế, các chuyên gia xã hội học, tâm lý học, luật học cần đồng hành với các doanh nghiệp công nghệ trong các khâu: Xác định dữ liệu nào được sử dụng, nhóm đối tượng nào có thể bị ảnh hưởng, tiêu chí nào cần phải tuân thủ để không vi phạm vấn đề đạo đức. Những tri thức ứng dụng vào quá trình đổi mới sáng tạo đó phải dựa trên kết quả nghiên cứu tin cậy từ thực tiễn, theo nhu cầu, hành vi và giá trị xã hội.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, quá trình đổi mới sáng tạo hiện không còn là câu chuyện nỗ lực riêng của từng nhà nghiên cứu, mà là của cả một hệ thống. Hệ sinh thái này bao gồm trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, tổ chức xã hội và cộng đồng cùng tham gia. Khoa học xã hội không đứng ngoài cuộc cách mạng công nghệ, mà là một trong những năng lực giúp định hình cuộc cách mạng đó. Để tham gia quản lý hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, khoa học xã hội cần đi vào những không gian thực nghiệm có kiểm soát.

Các trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hoàn toàn có thể phát triển theo các mô hình phòng thí nghiệm xã hội (social lab), nơi nhà nghiên cứu có thể thử nghiệm các chính sách, mô hình giáo dục, giải pháp cộng đồng hoặc phương thức truyền thông với sự trợ giúp của công nghệ, trước khi triển khai ở quy mô lớn...

Cần khẳng định rằng, thời đại công nghệ không làm cho khoa học xã hội và nhân văn trở thành “lép vế”, mà ngược lại, càng nhiều công nghệ được ứng dụng trong đời sống, xã hội càng cần nhiều tri thức giúp con người hiểu và kiểm soát công nghệ.

Cần khẳng định rằng, thời đại công nghệ không làm cho khoa học xã hội và nhân văn trở thành “lép vế”, mà ngược lại, càng nhiều công nghệ được ứng dụng trong đời sống, xã hội càng cần nhiều tri thức giúp con người hiểu và kiểm soát công nghệ.

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5/2026 đã nêu: Khoa học xã hội và nhân văn là tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa và con người. Không thể phát triển nhanh và bền vững nếu chỉ mạnh về công nghệ mà yếu về thể chế, văn hóa, con người và năng lực quản trị xã hội. Muốn phát triển công nghệ phục vụ đời sống con người theo hướng bền vững, tri thức khoa học xã hội phải trở thành một hạ tầng nền tảng của toàn xã hội.

Công nghệ có thể tạo ra những công cụ mạnh hơn, nhanh hơn, thông minh hơn, nhưng khoa học xã hội và nhân văn phải có nhiệm vụ giữ con người là trung tâm trong mọi sự đổi mới, bằng việc trả lời câu hỏi: Con người sẽ sống như thế nào trong một thế giới ngày càng được định hình bởi công nghệ? Do đó, đổi mới sáng tạo trong khoa học xã hội và nhân văn không chỉ dừng ở việc hiện đại hóa phương pháp nghiên cứu, mà cần vượt lên, tham gia quá trình kiến tạo tri thức mới, góp phần giải quyết rốt ráo những vấn đề thực tế đang xảy ra nhanh và không ngừng biến động của xã hội.

Để trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới quốc gia, khoa học xã hội và nhân văn phải đổi mới chính mình, mạnh dạn vượt qua các đường biên học thuật, tăng cường thực nghiệm và mô hình hóa. Theo Tiến sĩ Đỗ Thị Kim Anh (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và nhân văn) đó phải là quá trình thay đổi căn bản. Từ nghiên cứu đơn ngành sang liên ngành và xuyên ngành, từ dữ liệu nhỏ sang kết hợp dữ liệu truyền thống với dữ liệu lớn; từ mô tả sang giải thích, dự báo và thử nghiệm; từ nghiên cứu đơn lẻ sang nghiên cứu cùng cộng đồng, từ đề tài sang bài toán xã hội... Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của nhà nghiên cứu.

AI có thể là công cụ đắc lực, nhưng nếu nhà nghiên cứu giao toàn bộ tư duy cho máy móc, nghiên cứu có thể trở thành quá trình tái chế thông tin mà không phải là kiến tạo tri thức. Chuyên gia cho rằng, một nhà nghiên cứu khoa học xã hội giỏi không nhất thiết phải là người đọc nhiều tài liệu nhất, mà là người có khả năng đặt những câu hỏi mà máy móc chưa thể tự đặt ra một cách có trách nhiệm, đồng thời đánh giá bằng chứng, xây dựng giả thuyết và chịu trách nhiệm về kết luận khoa học của mình. Trong kỷ nguyên công nghệ, mục tiêu cao nhất của đổi mới sáng tạo mà khoa học xã hội và nhân văn phải góp phần tạo ra một xã hội có năng lực phát triển tốt hơn, con người có chất lượng sống cao hơn, quốc gia có khả năng thích ứng tốt hơn với những biến đổi của thời đại.

Có thể bạn quan tâm