Triển khai xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược

Việc xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được triển khai đối với các sản phẩm đã được phát triển, thương mại hóa. Các sản phẩm đăng ký được đánh giá theo những tiêu chí về công nghệ, tác động đối với kinh tế-xã hội hoặc quốc phòng, an ninh và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Triển lãm các sản phẩm, kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu, bán dẫn và vật lý ứng dụng tại Triển lãm thành tựu khoa học và công nghệ của Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: HÀ LINH)
Triển lãm các sản phẩm, kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu, bán dẫn và vật lý ứng dụng tại Triển lãm thành tựu khoa học và công nghệ của Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: HÀ LINH)

Đã có sản phẩm thuộc các nhóm công nghệ chiến lược

Ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ ( Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, từ nay đến cuối năm sẽ triển khai việc xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã được phát triển. Đây là quy trình dành cho các sản phẩm đã được phát triển, thương mại hóa của các tổ chức, cá nhân. Dựa trên việc đăng ký xác nhận của tổ chức, cá nhân, cơ quan quản lý sẽ đối chiếu các tiêu chí tại quy định tại Nghị định 260/2026/NĐ-CP và Thông tư 40/2026/TT-BKHCN để đánh giá, cấp Giấy xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược.

Về thẩm quyền, các Bộ, cơ quan ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược có thẩm quyền chủ trì việc tiếp nhận, đánh giá và xác nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo Điều 5, Thông tư 40/2026/TT-BKHCN ngày 1/7/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, để được xác nhận là sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Thông tư này, đồng thời đáp ứng ba nhóm tiêu chí về công nghệ, tác động đối với phát triển kinh tế-xã hội hoặc quốc phòng, an ninh và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Cụ thể, về công nghệ, sản phẩm phải được tạo ra từ một hoặc nhiều công nghệ và thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Về tác động, sản phẩm cần đáp ứng một trong ba tiêu chí: Tạo đột phá về giá trị gia tăng, giải quyết các bài toán lớn của nền kinh tế; tạo chuỗi giá trị, ngành sản xuất hoặc lĩnh vực dịch vụ mới, được ứng dụng trong các lĩnh vực thiết yếu; hoặc là sản phẩm thiết yếu phục vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia và bảo đảm hoạt động của hạ tầng trọng yếu.

Về lợi thế cạnh tranh quốc gia, sản phẩm cần đáp ứng một trong 3 tiêu chí: thay thế sản phẩm, công nghệ nhập khẩu có ý nghĩa chiến lược; tạo nền tảng dùng chung cho nhiều ngành; hoặc hình thành ngành công nghiệp hay thị trường mới.

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay, doanh nghiệp trong nước đã có mặt ở hầu hết các nhóm công nghệ chiến lược và bước đầu có sản phẩm thương mại hóa, được tập trung ở một số lĩnh vực như: Thiết bị điều khiển tự động; hạ tầng nguồn điện; thiết bị thăm dò và khai thác biển sâu; thiết bị mạng viễn thông thế hệ mới. Đây là những lĩnh vực doanh nghiệp Việt Nam có cơ sở tích lũy để phát triển thành lợi thế, tuy quy mô hiện còn nhỏ và chưa hình thành được chuỗi sản xuất lớn hay thương hiệu đủ mạnh.

Một nhóm sản phẩm đã có doanh nghiệp trong nước triển khai và có thị trường tương đối rõ, có khả năng thương mại hóa sớm, như: Trợ lý ảo tiếng Việt phục vụ cơ quan nhà nước và người dân, trí tuệ nhân tạo xử lý tại biên; thiết bị mạng di động thế hệ mới theo chuẩn mở; robot di động tự hành; thiết bị bay không người lái.

14 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đã được phê duyệt

Bên cạnh đó, đối với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được phê duyệt theo Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, ông Nguyễn Phú Hùng cho biết, đến ngày 25/9/2026 đã có 14 nhiệm vụ được các bộ, cơ quan phê duyệt với tổng kinh phí đề xuất gần 1.800 tỷ đồng (ngân sách nhà nước chiếm hơn 80%).

Các nhiệm vụ này thuộc những lĩnh vực có yêu cầu tự chủ cao: Liệu pháp tế bào điều trị ung thư; công nghệ xây dựng công trình đường sắt tốc độ cao; robot công nghiệp và thị giác máy tính-trí tuệ nhân tạo cho sản xuất; chip thu phát vô tuyến cho thiết bị bay không người lái; vệ tinh quan sát Trái đất; chọn giống bằng công nghệ gen.

Dự tính giai đoạn 2027-2028, nhóm nhiệm vụ có thời gian thực hiện 18-24 tháng sẽ kết thúc; giai đoạn 2029-2031, nhóm nhiệm vụ có thời gian thực hiện 36-60 tháng sẽ kết thúc.

14 nhiệm vụ đã phê duyệt hiện đang ở bước thông báo công khai và chọn lựa tổ chức chủ trì. Việc xét đặt hàng, ký hợp đồng và bố trí kinh phí thực hiện sẽ hoàn tất sau khi kết thúc chọn lựa, dự tính trong tháng 11 và tháng 12/2026.

Để các nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, mà phải tạo ra sản phẩm, giải quyết các bài toán lớn của nền kinh tế, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng cơ chế ràng buộc trong quá trình triển khai.

Theo đó, sản phẩm đầu ra bắt buộc phải thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, tức là phải là một sản phẩm cụ thể có thị trường, chứ không phải một kết quả nghiên cứu chung chung. Hồ sơ phải nêu rõ địa chỉ ứng dụng và phương án thương mại hóa.

Trong quá trình thực hiện, kinh phí ngân sách được khoán chi theo kết quả đạt được tại từng mốc đánh giá, do Hội đồng đánh giá xác nhận, và kết quả mốc trước là điều kiện để cấp kinh phí cho giai đoạn sau. Với các nhiệm vụ triển khai đồng thời nhiều phương án công nghệ, phương án không đáp ứng yêu cầu sẽ bị chấm dứt tại mốc đánh giá.

Ngoài ra, ràng buộc bằng nguồn lực đối ứng của doanh nghiệp. Việc yêu cầu doanh nghiệp tham gia và cam kết kinh phí đối ứng khiến chính doanh nghiệp trở thành bên giám sát chặt chẽ nhất về khả năng thương mại hóa. Đây là cơ chế tự nhiên và được coi là hiệu quả hơn mọi biện pháp hành chính.

Có thể bạn quan tâm