Trong khuôn khổ chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp đầu tháng 9, một số hợp tác của doanh nghiệp Việt đã đi theo hướng này. Petrovietnam và đối tác thuộc Rosatom thỏa thuận phát triển Trung tâm công nghệ bồi đắp tại Việt Nam, gắn với chuyển giao công nghệ vật liệu và in 3D phục vụ ngành năng lượng.
Tại Pháp, VNVC và Sanofi công bố lộ trình sản xuất một số vaccine thế hệ mới tại Việt Nam, trong đó hướng tới đưa một phần năng lực sản xuất từ đối tác quốc tế về thị trường trong nước thay vì chỉ nhập khẩu thành phẩm.
Ở lĩnh vực hàng không, Vietjet cùng các đối tác Pháp mở rộng hợp tác không chỉ ở khai thác và bảo dưỡng kỹ thuật mà còn sang AI, dữ liệu và an ninh mạng, những lớp công nghệ ngày càng quan trọng với vận hành hàng không hiện đại.
Các thỏa thuận này có phạm vi, mức độ chuyển giao và thời gian triển khai khác nhau, song đều cho thấy một điểm chung: hợp tác quốc tế đang được gắn chặt hơn với việc hình thành năng lực tại Việt Nam, từ nhà máy, đội ngũ kỹ thuật đến khả năng nghiên cứu, vận hành và phát triển công nghệ. Câu hỏi vì thế không chỉ là doanh nghiệp Việt ký được bao nhiêu thỏa thuận, mà là sau mỗi hợp tác, năng lực nào thực sự được hình thành, được giữ lại và có thể tiếp tục phát triển trong nước.
Yêu cầu chuyển từ cam kết sang năng lực và kết quả cụ thể này cũng được đặt ra rất rõ tại Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Liên bang Nga ngày 9/9. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, hợp tác khoa học, công nghệ Việt Nam-Liên bang Nga trong giai đoạn tới cần có một tư duy mới, cách làm mới và những mục tiêu cao hơn. Theo đó, hợp tác không chỉ dừng ở trao đổi chuyên gia, đào tạo cán bộ mà phải hướng tới cùng làm chủ công nghệ, cùng tạo ra sản phẩm và cùng tham gia thị trường.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị việc đánh giá quan hệ hợp tác khoa học, công nghệ Việt Nam-Liên bang Nga cũng cần được nhìn nhận bằng những kết quả thực chất hơn, không chỉ qua số lượng đoàn trao đổi hay số văn kiện được ký kết. Từ cam kết đến kết quả phải có một chuỗi rõ ràng: thỏa thuận thành chương trình, chương trình thành dự án, dự án tạo ra công nghệ và sản phẩm, sản phẩm có tiềm năng được đưa tới thị trường.
Tinh thần này không chỉ được đặt ra trong hợp tác Việt Nam-Liên bang Nga. Nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly tới Cộng hòa Pháp từ ngày 10-11/9, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc thúc đẩy triển khai khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Pháp.
Tuyên bố chung xác định tiếp tục đẩy mạnh hợp tác khoa học, công nghệ, trụ cột hợp tác giữa hai nước trong khuôn khổ thực hiện Kế hoạch hành động của Đối tác Chiến lược Toàn diện, đặc biệt thông qua đào tạo, phát triển các chương trình nghiên cứu chung; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nghiên cứu và khuyến khích hợp tác với khu vực tư nhân trong các lĩnh vực cùng quan tâm được xác định trong kế hoạch hành động này, bắt đầu từ trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, kỹ thuật số, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và biển, cũng như giao thông thông minh.
Hợp tác để tiếp nhận tri thức và chuyển giao công nghệ
Với doanh nghiệp công nghệ, khoảng cách từ một thỏa thuận hợp tác tới khả năng làm chủ công nghệ thường là một quá trình dài. Tiếp cận chuyên gia, phòng thí nghiệm hay nền tảng công nghệ mới chỉ là điểm bắt đầu. Tri thức đó cần được hấp thụ bởi đội ngũ trong nước, phát triển thành năng lực nghiên cứu, tài sản trí tuệ, sản phẩm và cuối cùng là khả năng thương mại hóa.
FPT là một trong những doanh nghiệp Việt đang theo đuổi quá trình này. Trong nhiều năm, hợp tác quốc tế của Tập đoàn chủ yếu gắn với mở rộng thị trường và cung cấp dịch vụ công nghệ. Những năm gần đây, cùng với việc tăng đầu tư cho các công nghệ chiến lược, một số quan hệ hợp tác được mở rộng sang nghiên cứu chung, phát triển nhân lực, tài sản trí tuệ và đồng phát triển sản phẩm.
Năm 2020, FPT trở thành đối tác chiến lược đầu tiên của Mila tại Đông Nam Á. Sau sáu năm, hợp tác giữa hai bên đã hình thành chuỗi hoạt động từ đào tạo nhà nghiên cứu trẻ, thực hiện nghiên cứu chung đến phát triển tài sản trí tuệ. Theo số liệu FPT công bố tháng 8/2026, hai bên đã có 162 công trình khoa học, trong đó 126 công trình được công bố tại các hội nghị và tạp chí hàng đầu thế giới; đào tạo 80 nhà nghiên cứu trẻ và có 5 bằng sáng chế được chấp nhận. Thỏa thuận mới tiếp tục mở rộng sang nghiên cứu AI, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao tri thức.
Điểm đáng chú ý nằm ở những gì hình thành sau hợp tác. Thay vì chỉ tiếp cận một công nghệ có sẵn để ứng dụng, doanh nghiệp có thêm đội ngũ có khả năng nghiên cứu, tham gia cộng đồng khoa học quốc tế và tạo ra tài sản trí tuệ. Đây là bước chuyển cần thiết nếu doanh nghiệp Việt muốn đi từ sử dụng công nghệ sang tham gia quá trình tạo ra công nghệ.
Trong bán dẫn, con đường diễn ra theo cách khác. FPT tập trung phát triển các dòng chip nguồn như PMIC, LDO, BUCK, LED Driver và Power MOSFET. Đây là nhóm chip và linh kiện bán dẫn thực hiện các chức năng quản lý, chuyển đổi và điều tiết nguồn điện, giúp thiết bị điện tử vận hành ổn định. Cuối năm 2025, doanh nghiệp bàn giao lô chip nguồn thương mại đầu tiên cho một công ty điện tử Nhật Bản thông qua Restar, đưa chip do FPT thiết kế vào một thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và độ tin cậy. Đầu năm 2026, FPT tiếp tục thành lập Nhà máy Kiểm thử và Đóng gói tiên tiến chip bán dẫn.
Như vậy, doanh nghiệp không nhất thiết phải tự phát triển toàn bộ chuỗi công nghệ từ đầu. Hợp tác quốc tế có thể giúp rút ngắn thời gian tích lũy kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ và thị trường, trong khi nguồn lực trong nước được tập trung vào những khâu doanh nghiệp muốn xây dựng lâu dài như thiết kế, R&D, kiểm thử, đóng gói và phát triển sản phẩm.
Mở đường cho các hướng nghiên cứu mới
Không phải mọi kết quả của hợp tác quốc tế đều có thể nhìn thấy ngay ở một sản phẩm hoàn chỉnh. Với những công nghệ mới, giá trị ban đầu đôi khi nằm ở việc mở được một hướng nghiên cứu, hình thành một phòng thí nghiệm, xây dựng đội ngũ kỹ thuật hoặc tạo ra một năng lực mà trước đó Việt Nam chưa có.
Tháng 8/2026, FPT hợp tác với NARMA - doanh nghiệp công nghệ Hàn Quốc được tách ra từ Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Hàn Quốc - để nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa UAV thế hệ mới.
Hai bên phân chia theo thế mạnh: NARMA có kinh nghiệm về phần cứng eVTOL, còn FPT tập trung vào AI, phần mềm bay tự hành và công nghệ phát hiện, tránh chướng ngại vật. FPT dự kiến tích hợp AI vào nền tảng AF100 và phát triển “máy tính nhiệm vụ” đóng vai trò bộ não xử lý của thiết bị.
Song song, FPT đang tổ chức nguồn lực ở những hướng công nghệ chiến lược khác. Tập đoàn đã hình thành đơn vị chuyên trách về công nghệ đường sắt, nghiên cứu các lớp công nghệ số, dữ liệu và AI phục vụ vận hành đường sắt, metro; đồng thời đầu tư vào an ninh mạng và Quantum AI & Cybersecurity để nghiên cứu những bài toán bảo mật mới trong bối cảnh AI và công nghệ lượng tử phát triển.
Trong quan hệ với Pháp, FPT cũng đề xuất tăng các chương trình đào tạo đại học và sau đại học, trao đổi chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học; mở rộng hợp tác giữa doanh nghiệp với trường đại học, tổ chức nghiên cứu; thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong giao thông và kỹ thuật đường sắt.
Ở các lĩnh vực công nghệ khác, một số hợp tác mới được hình thành trong chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Nga và Pháp cũng cho thấy xu hướng đưa hợp tác quốc tế vào những năng lực cụ thể tại Việt Nam.
Thỏa thuận giữa Petrovietnam và đối tác thuộc Rosatom về phát triển Trung tâm công nghệ bồi đắp tại Việt Nam cũng là một thí dụ. Trung tâm dự kiến được trang bị máy in 3D kim loại cùng các thiết bị xử lý nhiệt, gia công cơ khí và phân tích trong phòng thí nghiệm, hướng tới không chỉ nghiên cứu mà còn giải quyết những bài toán cụ thể của ngành dầu khí-năng lượng, từ chế tạo chi tiết phức tạp đến phục hồi, sửa chữa thiết bị. Như vậy, công nghệ được đưa vào Việt Nam không dừng ở việc tiếp nhận thiết bị mà được đặt trong một môi trường để tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng vào sản xuất.
Tại Pháp, một hướng khác được mở ra từ hợp tác giữa Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Ủy ban Năng lượng nguyên tử và Năng lượng thay thế Pháp (CEA). Các thỏa thuận hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, với những lĩnh vực như năng lượng hạt nhân, năng lượng mới, hydrogen, bán dẫn và vật liệu. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi quá trình tích lũy lâu dài về nghiên cứu và nhân lực, cho thấy hợp tác quốc tế không chỉ nhằm đưa công nghệ về ứng dụng mà còn mở thêm không gian để Việt Nam tham gia vào những hướng nghiên cứu mới.
Làm chủ công nghệ là quá trình tích lũy kéo dài, trong đó hợp tác quốc tế có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu và thử thách, nhưng phần năng lực ở lại trong nước phụ thuộc vào việc đội ngũ Việt Nam được tham gia sâu tới đâu vào nghiên cứu, thiết kế, tích hợp và phát triển sản phẩm.
Bởi vậy, thước đo của hợp tác công nghệ quốc tế không chỉ nằm ở số lượng đối tác hay biên bản ghi nhớ. Quan trọng hơn là sau mỗi chu kỳ hợp tác, doanh nghiệp Việt giữ lại được đội ngũ nào, hình thành thêm năng lực nghiên cứu gì, sở hữu tài sản trí tuệ nào và tạo ra được những sản phẩm nào có thể tiếp tục phát triển bằng chính năng lực của mình. Đó cũng là cách để hợp tác quốc tế đi xa hơn việc tiếp nhận công nghệ: từ kết nối với nguồn lực bên ngoài tới hình thành con người, năng lực R&D, sản phẩm và vị trí mới cho doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.