Tuy nhiên, hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ trên địa bàn thành phố hiện nay vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của một trung tâm khoa học-công nghệ, giáo dục và đào tạo lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhiều tài sản trí tuệ được bảo hộ
Theo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, hoạt động đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố có sự tăng trưởng đáng kể. Tính đến nay, toàn thành phố ghi nhận 12.187 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (bao gồm 11.525 nhãn hiệu, 421 kiểu dáng công nghiệp và 241 sáng chế). Số văn bằng bảo hộ đã được cấp đạt khoảng 8.856, gồm 8.478 nhãn hiệu, 295 kiểu dáng công nghiệp và 83 sáng chế.
Giai đoạn từ năm 2021 đến nay, Cần Thơ đã triển khai các chính sách hỗ trợ thiết thực cho hơn 250 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hợp tác xã đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ với kinh phí 5,5 tỷ đồng, đồng thời dành hơn 30 tỷ đồng triển khai 20 nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tạo lập và khai thác tài sản trí tuệ.
Sau các đợt sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố hiện sở hữu 3 chỉ dẫn địa lý, 8 nhãn hiệu chứng nhận và 41 nhãn hiệu tập thể với nhiều sản phẩm danh tiếng, như: Hành tím Vĩnh Châu, Artemia Vĩnh Châu, khóm Cầu Đúc... Ngoài ra, với 903 sản phẩm thuộc Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Cần Thơ đang nắm giữ nguồn dư địa khổng lồ để tiếp tục phát triển tài sản trí tuệ.
Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu, số lượng đơn đăng ký sở hữu trí tuệ vẫn tập trung vào nhãn hiệu. Số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích còn rất thấp so với tiềm năng của một đô thị hội tụ hàng loạt trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Giá trị của tài sản trí tuệ không dừng ở tấm bằng bảo hộ mà nằm ở quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, uy tín thương hiệu trên thị trường.
Theo các chuyên gia, để tài sản trí tuệ thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế, việc thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp) là giải pháp mang tính cốt lõi. Thực tế tại Cần Thơ đã ghi nhận dấu ấn hợp tác thành công giữa Đại học Cần Thơ và Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc (KVIP).
KVIP sở hữu 3 nhà xưởng thực nghiệm (pilot) quy mô bán công nghiệp thuộc các lĩnh vực nông sản, thủy sản và cơ khí. Mối liên kết này đã giải quyết triệt để bài toán thiếu mặt bằng và thiết bị thực nghiệm công nghiệp cho các đề tài nghiên cứu từ phòng lab.
Tính đến nay, KVIP đã thu hút hơn 1.000 lượt giảng viên, sinh viên Đại học Cần Thơ đến vận hành máy móc, thực hiện đề tài ứng dụng. Đồng thời, 27 chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành của Đại học Cần Thơ đã tham gia Hội đồng tư vấn, phản biện công nghệ và hướng dẫn kỹ thuật cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tại KVIP.
Thành công tiêu biểu nhất của mô hình này là dự án của Công ty cổ phần Thực phẩm Phạm Nghĩa với sản phẩm “Chả cá thát lát nhân trứng muối” (Chả cá Kim Sa). Nhờ sự tư vấn chuyên sâu của các nhà khoa học, doanh nghiệp đã xử lý hiệu quả bài toán biến tính protein và kỹ thuật cấp đông nhanh.
Sản phẩm hoàn thiện đạt tiêu chuẩn quốc tế, thương mại hóa thành công tại các hệ thống siêu thị lớn và xuất khẩu ra nước ngoài. Ngoài ra, nhiều dự án khác như sữa gạo Calevy, bột cá cao đạm Nhật Việt, máy gieo hạt Hoàng Thắng... cũng đã hoàn thiện công nghệ nhờ cơ chế dùng chung hạ tầng này.
Thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ
Dù đạt được kết quả khả quan, việc khai thác tài sản trí tuệ vẫn gặp phải nhiều điểm nghẽn về cơ chế, thời gian thẩm định và nguồn vốn. Một số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa chú trọng đầy đủ đến xây dựng chiến lược khai thác, phát triển và thương mại hóa tài sản sau khi được bảo hộ. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu nhân lực chuyên trách, kiến thức và kinh nghiệm trong việc xác định giá trị tài sản trí tuệ, khai thác, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.
Các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học, công nghệ có nhiều kết quả nghiên cứu, sáng chế, giải pháp kỹ thuật và công nghệ tiềm năng, tuy nhiên quá trình kết nối với doanh nghiệp và đưa sản phẩm ra thị trường vẫn chưa hiệu quả.
Để thương mại hóa tài sản trí tuệ hiệu quả, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Nguyễn Đoan Khôi, Trường Kinh tế (Đại học Cần Thơ) kiến nghị: Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ đẩy mạnh chuyển đổi số, rút ngắn thời gian thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc từ các viện, trường công lập; áp dụng quy chế, cơ chế ưu tiên đối với các giải pháp kỹ thuật thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược, kinh tế xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời hướng dẫn chuẩn hóa phương pháp định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước để rút ngắn thời gian đưa sản phẩm công nghệ ra thị trường. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ sớm xây dựng đề án trình Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế thử nghiệm đặc thù (Sandbox), tạo hành lang cho mô hình hợp tác công tư tại KVIP và tạo điều kiện cho các nhà khoa học thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off). Thành phố cần bố trí nguồn vốn ngân sách khoa học, công nghệ để hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm, đây là nguồn vốn mồi để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư, tài trợ hoàn thiện mẫu thương phẩm cho các sản phẩm OCOP và nông sản đặc thù.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi cho biết: Thời gian tới, thành phố Cần Thơ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ theo hướng thiết thực, hiệu quả, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Trong đó, thành phố tập trung chuyển từ hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sang hỗ trợ toàn diện quá trình quản lý, phát triển, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần đưa tài sản trí tuệ trở thành nguồn lực phục vụ đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần Thơ ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có sản phẩm dịch vụ chủ lực; thúc đẩy kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học, công nghệ với doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đồng thời, thành phố quan tâm hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, phát triển các mô hình khai thác phù hợp và nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý gắn với kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường.