Chủ động thích ứng, kiến tạo phát triển

Các văn kiện Đại hội XII, XIII và XIV của Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng phải bền vững; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của công tác bảo vệ môi trường. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vừa ban hành Kết luận số 75-KL/TW, tiếp tục đề ra những quyết sách quan trọng, không chỉ về mục tiêu mà còn về phương thức quản lý và tổ chức thực hiện, với tư duy mới và tầm nhìn xa.

Các sản phảm được tái chế từ rác thải nhựa. Ảnh | Trần Hải
Các sản phảm được tái chế từ rác thải nhựa. Ảnh | Trần Hải

Bức tranh đa diện

Trong nhiều điểm sáng, có thể thấy rõ bước chuyển tích cực trong kiểm soát các nguồn thải lớn, quản lý chất thải, môi trường tại các khu công nghiệp, khu đô thị và vùng nông thôn, mức độ ô nhiễm không khí. Công tác bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, lồng ghép mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường (BVMT) trong các quy hoạch phát triển được đẩy mạnh. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và phát triển bền vững bước đầu có tín hiệu tích cực…

Tuy nhiên, môi trường nước ta đã và đang chịu áp lực lớn từ các nguồn ô nhiễm gia tăng nhanh về số lượng, quy mô và mức độ tác động. Ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra ở các lưu vực sông, cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản, các vùng ven biển. Môi trường không khí đô thị mặc dù có cải thiện song một số nơi, có lúc vẫn còn ô nhiễm, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao (59%), bình quân lượng nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý chỉ đạt 18%, suy thoái và thu hẹp hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học vẫn tiếp diễn.

Căn nguyên tồn tại xuất phát từ hạn chế, bất cập trong nhận thức, trách nhiệm bảo vệ, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường; lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức thực hiện, năng lực thực thi ở một số nơi, nguồn lực còn thiếu và yếu và một số quy định của pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất chưa được triển khai toàn diện, còn nặng về tiền kiểm, hậu kiểm chưa phát huy hiệu quả; hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu. Chưa kể tác động từ gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, trình độ công nghệ còn ở mức thấp, số lượng nguồn thải lớn.

Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản lý môi trường, chủ động hơn nữa trong phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và ứng phó với các thách thức môi trường ngày càng gia tăng, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Đổi mới tư duy, cách tiếp cận

Thực tiễn trên thế giới chứng minh, quốc gia nào biết gìn giữ tài nguyên, BVMT, giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh lâu dài. Ngược lại, nếu tiếp tục đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn, cái giá phải trả sẽ rất lớn về kinh tế, sức khỏe cộng đồng cùng nhiều hệ lụy và các vấn đề về an ninh môi trường, khí hậu.

Ở nước ta, BVMT phải được nhìn nhận trong tổng thể của quá trình phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện tiên quyết của tăng trưởng. BVMT phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế, đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển. Môi trường không nên chỉ được nhìn nhận như một yếu tố làm phát sinh “chi phí” cho phát triển mà cần được coi là một nguồn lực và đóng vai trò kiến tạo, một yếu tố tạo nên sức cạnh tranh mới của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Cách tiếp cận này cũng làm thay đổi vị trí của công tác BVMT trong các quyết định phát triển. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường; chuyển từ ứng phó sang kiến tạo phát triển. Quản lý môi trường phải được chuyển đổi phương thức từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại. Xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại và nâng cao năng lực quản lý là phương pháp tiếp cận toàn diện kết hợp giữa thể chế, chính sách, pháp luật và công nghệ, chuyển đổi số cùng các giải pháp về kinh tế-xã hội để phát triển bền vững, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Kết hợp chặt chẽ giữa tiền kiểm gắn với tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ tuân thủ.

Cơ chế phối hợp liên vùng hiện chưa hiệu quả, chưa có các chế tài đủ mạnh để ràng buộc trách nhiệm của các bên liên quan. Tư duy cục bộ địa phương dẫn đến một số khu vực hạ nguồn phải gánh chịu hệ lụy ô nhiễm từ các hoạt động phát triển công nghiệp ở thượng nguồn. Nhiều vấn đề môi trường đã vượt khỏi phạm vi quản lý của từng địa phương riêng lẻ, vì vậy thiết lập cơ chế kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với kiểm soát theo vùng, khu vực và tổng thải lượng chất ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế điều phối liên vùng, liên ngành, liên địa phương và phối hợp quản trị hiệu quả mới có thể giải quyết tận gốc các vấn đề môi trường. Nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; rõ trách nhiệm của từng cơ quan ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã trong kiểm soát nguồn thải, bảo đảm chất lượng môi trường và giải quyết các vấn đề môi trường, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhất là người đứng đầu trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu.

Biến thách thức thành cơ hội

Trong hệ thống nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá không thể thiếu đổi mới mô hình quản trị, huy động và phân bổ nguồn lực, phát triển khoa học và công nghệ, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.

Hướng đi khả quan là phát triển kinh tế môi trường, các ngành công nghiệp môi trường, thúc đẩy tuần hoàn vật liệu, sản phẩm trong toàn chuỗi giá trị; có cơ chế ưu đãi vượt trội cho các dự án tái chế; thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và kết quả đổi mới sáng tạo về môi trường; hoàn thiện cơ chế thúc đẩy kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp và sản xuất, tiêu dùng bền vững, từ đó mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp. Thay vì coi chi phí môi trường là gánh nặng, doanh nghiệp có thể biến đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, tái chế chất thải, giảm phát thải thành lợi thế cạnh tranh và giảm chi phí, áp lực đối với môi trường. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường và khí hậu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Muốn chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, cần đầu tư, hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo. Cùng với đó, thúc đẩy phân loại chất thải, tái sử dụng, tái chế, xử lý kết hợp thu hồi năng lượng, giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc.

Để chủ trương, chính sách thật sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất không chỉ ban hành thêm các quy định mới mà tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. BVMT không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý nhà nước mà phải trở thành trách nhiệm chung của mỗi cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và từng người dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục giúp tạo thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội, bảo đảm sự tham gia rộng rãi, thực chất và có trách nhiệm, để nếp sống văn hóa môi trường trở thành thói quen trong đời sống.

Về nguồn lực, Kết luận số 75 yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp BVMT; đồng thời huy động, phát huy hiệu quả nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, nguồn tài chính xanh. Trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đẩy mạnh chuyển đổi xanh, hợp tác quốc tế tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Việt Nam chủ động tham gia định hình các sáng kiến toàn cầu về môi trường và khí hậu; tranh thủ nguồn lực tài chính, công nghệ và tri thức; nâng cao năng lực ứng phó với các tiêu chuẩn, quy định và hàng rào kỹ thuật mới trong thương mại quốc tế.

Với tầm nhìn mới, quyết tâm chính trị và một lộ trình hành động rõ ràng, chúng ta hoàn toàn có thể biến những thách thức về môi trường và biến đổi khí hậu thành cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, xây dựng nền kinh tế có khả năng chống chịu cao, phát triển bền vững. Điều quan trọng nhất là chuyển hóa các chủ trương đúng đắn thành những kết quả cụ thể, đo đếm được trong từng ngành, từng địa phương và từng cộng đồng.

BVMT cũng là bảo vệ nền tảng phát triển của đất nước, sức khỏe nhân dân và gìn giữ tương lai cho các thế hệ mai sau. Nếu nhìn nhận thách thức bằng một tư duy mới và quản trị bằng một phương thức mới, những sức ép đối với môi trường có thể trở thành động lực cho một mô hình phát triển xanh hơn, hiệu quả và bền vững hơn.

Đến hết năm 2025, cả nước có 309/324 (95,37%) khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 31/47 làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc danh mục đã triển khai các hoạt động khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường đạt hơn 90%...

Có thể bạn quan tâm