Về yếu tố kinh tế trong khai thác di sản văn hóa

Khai thác giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên là một xu hướng kinh doanh phổ biến trong hoạt động du lịch trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Nhưng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, du lịch không thể chỉ coi trọng doanh thu mà còn phải vừa góp phần phát huy giá trị, vẻ đẹp của di sản, vừa giữ gìn môi trường, cảnh quan sinh thái,…

Dư luận chưa hết bức xúc với các tour (tua) ăn nhậu được doanh nghiệp du lịch chào mời tổ chức tại một số hang động của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. Mỗi bữa tiệc có quy mô từ 20 đến 60 khách với giá dao động từ 3 triệu đến 5 triệu đồng/người/tour. Địa điểm tổ chức tiệc là trong lòng một số hang động trên vịnh như hang Trống, hang Thầy (vịnh Hạ Long) hay hang Thiên Cảnh Sơn (vịnh Bái Tử Long). Các sàn gỗ rộng hàng trăm mét vuông được dựng trên nền hang. Các vách đá cũng bị “cải biên” để đặt sân khấu cho buổi tiệc. Bàn ghế dựng ngổn ngang quanh vách đá. Những bộ loa, bộ đèn công suất lớn được huy động cho các màn trình diễn âm thanh, ánh sáng. Thực tế cho thấy ở một số nơi, thiên nhiên đã phải chịu tác động từ các nhà tổ chức.

Theo ý kiến một lãnh đạo địa phương thì “Sẽ rất khó để có thể đưa ra quyết định cấm ngay loại hình dịch vụ này vì nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các doanh nghiệp đang kinh doanh du lịch, vì họ đã nhận rất nhiều đơn đặt hàng của du khách” (! ?). Dù có nhiều lời giải thích và hứa hẹn nhưng sự kiện vẫn đưa tới cảnh báo: Sự an nguy của các di sản luôn có thể bị đặt sau lợi ích của các doanh nghiệp, như một số chuyên gia đã chỉ rõ. Trước đó, năm 2014 đã có hai tập đoàn đề xuất được chuyển nhượng quyền tổ chức dịch vụ, quản lý thu phí trên vịnh Hạ Long với dự kiến gói thu tài chính khá lớn nộp cho địa phương, nhưng đã vấp phải phản ứng mạnh từ cộng đồng.

Trên thế giới, từ lâu, nhiều quốc gia đã cho phép các doanh nghiệp, công ty, tập đoàn tham gia tổ chức, quản lý, kinh doanh các dịch vụ tại di sản. Cung điện Blenheim (Blen-im) là điểm du lịch nổi tiếng gắn với lịch sử của Hoàng gia Anh, được giao cho tư nhân quản lý. Ở Pháp, di sản văn hóa thế giới tháp Eiffel (Ép-phen) do hai công ty Mark Inch và Robert Waterland cùng nắm quyền kinh doanh khai thác hơn 10 năm qua. Ở Cam-pu-chia việc kinh doanh khai thác ở Angkor Wat (Ăng-co Vát) được Chính phủ Cam-pu-chia giao cho Tập đoàn Sokimex Invesment Co.

Ở Việt Nam, từ năm 2010, tỉnh Quảng Bình cũng đã áp dụng mô hình tư nhân tham gia quản lý - khai thác di sản. Việc quản lý, khai thác động Thiên Đường thuộc di sản Phong Nha - Kẻ Bàng được giao cho Tập đoàn Trường Thịnh. Tập đoàn này đã đưa vào khai thác tour khép kín: Sun Spa Resort - động Thiên Đường - hang Tám Cô và đã được đánh giá là khá hiệu quả, “đánh thức” tiềm năng du lịch của di sản.

Trường hợp khác là di sản thế giới quần thể di tích cố đô Huế. Phải nói rằng đến nay, số thu từ du lịch - dịch vụ giữ một vị trí quan trọng trong nguồn thu của Thừa Thiên - Huế. Festival Huế tổ chức vào các năm chẵn, cùng với Festival Nghề truyền thống tổ chức vào các năm lẻ đã tạo nên một thương hiệu đặc biệt, có tiếng vang và sức thu hút lớn. Chỉ tính riêng doanh thu từ vé tham quan di tích của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, năm 2016 ước đạt 245 đến 250 tỷ đồng.

Dự kiến giai đoạn năm 2016 - 2020, doanh thu từ vé tham quan sẽ đạt mức tương đương 20 năm trước cộng lại (khoảng hơn 1.200 tỷ đồng) và từ năm 2020, sẽ vượt mức 300 tỷ đồng/năm. Hơn 70% nguồn thu này được dùng để bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Huế, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích... Những kết quả trong việc bảo tồn và phát huy, phát triển văn hóa, du lịch ở Thừa Thiên - Huế cho thấy nếu có quan niệm, định hướng đúng đắn kết hợp với tổ chức, quản lý, khai thác tốt, di sản văn hóa hoàn toàn có thể trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội ở một địa phương nói riêng, cả nước nói chung.

Một mô hình cũng thường được dẫn chứng là Di sản thế giới Đô thị cổ Hội An. Có thể nói, gần như tất cả gia đình ở phố cổ Hội An đều ý thức được rằng những gì mình đang giữ gìn sẽ mang lại lợi ích kinh tế. Chính quyền hỗ trợ người dân bảo tồn nhà cổ, phố cổ, nghề cổ, trình diễn nghệ thuật truyền thống... trong vùng “lõi” đô thị cổ, đồng thời hỗ trợ cải thiện điều kiện sống cho người dân ở một khu “đệm” giãn dân khác ở ngoại vi. Nhiều gia đình thu lợi từ mô hình home-stay (dịch vụ lưu trú cho du khách tại nhà dân). Cũng cần nói thêm là giá home-stay ở Hội An không hề thấp.

Chúng ta thường gặp các luận điểm được coi như nguyên tắc ứng xử, như: khai thác và phát huy giá trị văn hóa (cả vật thể và phi vật thể) để bảo tồn di tích; cần làm cho di tích “sống”, hòa vào với cuộc sống của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn sinh lợi để bảo tồn di tích;… Những luận điểm đó không sai, nghe mãi thành quen, nhưng được cụ thể hóa trên thực tế như thế nào thì vẫn là câu chuyện cần bàn. Mục đích số một của doanh nghiệp là lợi nhuận, cộng thêm việc phát sinh nhiều dấu hiệu biến tướng của việc “xã hội hóa bảo tồn di sản” ở một số địa phương đã khiến người yêu quý di sản văn hóa lo lắng di sản đã bị “bán” (!).

Một số chuyên gia kinh tế lên tiếng ủng hộ việc giao quyền khai thác vịnh Hạ Long cho doanh nghiệp tư nhân, thậm chí là doanh nghiệp nước ngoài, coi đây là việc hợp với xu thế phát triển của thế giới; tư nhân sẽ chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công ích, đồng thời chia sẻ lợi nhuận… Tuy nhiên, Nhà nước không thể buông lỏng quản lý, giám sát, nhất là với di sản thiên nhiên thế giới có nhiều đặc thù như vịnh Hạ Long, và cần lưu ý cảnh báo của PGS, TS Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Di sản (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch): “Di sản văn hóa phải mang lại lợi ích cả về văn hóa lẫn kinh tế. Nhưng với vịnh Hạ Long - một di sản thiên nhiên cấp thế giới thì chúng ta phải cực kỳ thận trọng”.

Từ quan điểm bảo tồn tổng thể, phải có cách tiếp cận toàn diện hơn để bổ sung một mục tiêu phát triển là hướng tới việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sinh thái với tư cách là không gian sinh tồn và nguồn sống của con người. Việc trao quyền kinh doanh khai thác trên (trong) di tích, di sản đạt kết quả tốt hay xấu luôn phụ thuộc nhiều yếu tố, như: lựa chọn doanh nghiệp để trao quyền; cách tổ chức hoạt động khai thác kinh doanh; sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước...

Nguyên tắc đầu tiên cần tuân thủ là những gì thuộc về trách nhiệm của quản lý nhà nước thì không giao cho doanh nghiệp. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, khai thác dịch vụ thì có thể giao theo nguyên tắc ai làm gì tốt hơn thì tạo điều kiện, tránh độc quyền và tự ý. Việc tách biệt này sẽ phát huy vai trò các nguồn lực xã hội trong đầu tư và tổ chức dịch vụ. Những mô hình thành công khi kết hợp khai thác kinh tế với việc bảo tồn di tích, di sản (cả trên thế giới và ở Việt Nam) đều cho thấy rằng chúng ta hoàn toàn có thể làm tốt và nên khuyến khích, phát huy để tìm ra mô hình tổ chức và cách thức quản lý thích hợp trong công việc này ở mỗi di tích, di sản.

Có thể bạn quan tâm